Xây dựng Huế thành trung tâm văn hóa, du lịch Đông Nam Á
HNN - Ngày 8/9/2026, UBND thành phố Huế ban hành Kế hoạch số 519/KH-UBND triển khai Kết luận số 372-KL/TU của Thành ủy, tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU về xây dựng Huế xứng tầm là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc về văn hóa, du lịch và Nghị quyết số 37-NQ/TU về phát triển du lịch, dịch vụ du lịch giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Festival Huế là dịp hội tụ những đoàn nghệ thuật nổi tiếng đến từ nhiều nước, tạo nên không khí lễ hội sôi động. Ảnh: P. Thành
Nhiều mục tiêu quan trọng
Kế hoạch không chỉ có phạm vi nhiệm vụ rất rộng, mà nổi bật là tư duy đặt văn hóa và du lịch trong một chuỗi phát triển thống nhất. Từ tài nguyên, bảo tồn đến sản phẩm, thị trường, thương hiệu và tăng trưởng.
Với Huế, sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là bảo tồn tốt một đô thị di sản, mà phải biến chiều sâu văn hóa thành năng lực phát triển, biến lợi thế khác biệt thành sức cạnh tranh. Vì vậy, thước đo của Kế hoạch 519 không nằm ở số lượng nhiệm vụ được liệt kê, mà ở khả năng chuyển từng mục tiêu thành sản phẩm và kết quả cụ thể trong hơn bốn năm còn lại đến 2030.
Kế hoạch đã lượng hóa nhiều mục tiêu quan trọng. Ngay trong năm 2026, đã đặt yêu cầu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt; hoàn thiện hồ sơ tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực ẩm thực; hoàn thiện hồ sơ ca Huế đề nghị UNESCO ghi danh. Tỷ lệ chi ngân sách cho văn hóa, thể thao được xác định tối thiểu 3% tổng chi ngân sách địa phương.
Những con số ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được chuyển biến về chất. UNESCO không chỉ được nhìn như một hệ thống danh hiệu. Nếu hướng tới thành phố sáng tạo về ẩm thực, Huế phải đồng thời xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn tri thức, chuẩn hóa sản phẩm, phát triển doanh nghiệp, không gian trải nghiệm và truyền thông quốc tế. Nếu xây dựng hồ sơ ca Huế, phải giải quyết đồng bộ câu chuyện nghệ nhân, truyền nghề, không gian diễn xướng, bản quyền và thị trường. Tương tự, mức chi 3% chỉ phát huy tác dụng khi nguồn lực được tập trung cho những chương trình có khả năng tạo sức lan tỏa, thay vì chia nhỏ cho quá nhiều đầu việc.
Một chuyển biến đáng chú ý khác là tư duy phát triển công nghiệp văn hóa. Huế có tài nguyên đặc biệt phong phú, nhưng từ tài nguyên văn hóa đến công nghiệp văn hóa là một khoảng cách lớn. Di sản, lễ hội, ẩm thực hay làng nghề chỉ trở thành nguồn lực kinh tế khi có sản phẩm chuẩn, doanh nghiệp, thị trường, bản quyền, công nghệ, hệ thống phân phối và khả năng tái đầu tư.
Vì vậy, không nên dàn đều nguồn lực. Đến năm 2030, cần tập trung vào một số “cực tăng trưởng” có lợi thế rõ rệt: di sản - Festival - nghệ thuật biểu diễn; ẩm thực - áo dài - thủ công sáng tạo; nội dung số - điện ảnh - truyền hình - truyền thông - thiết kế. Khi đó, giá trị văn hóa Huế không chỉ được “tiêu dùng” tại Huế mà có thể hiện diện trong phim ảnh, xuất bản, âm nhạc, sản phẩm thiết kế, nền tảng số và thương mại điện tử.
Trong du lịch, mục tiêu đến năm 2030 đón 10 - 12 triệu lượt khách, khách quốc tế đạt 45 - 50%, tổng thu khoảng 30.000 tỷ đồng, chi tiêu bình quân 2,5 - 3 triệu đồng/khách, lưu trú bình quân 2,5 ngày và du lịch đóng góp khoảng 15% GRDP cho thấy Huế đã chuyển dần từ tư duy “đếm khách” sang chất lượng tăng trưởng.
Giữ khách ở lại và chi tiêu
Muốn đạt những chỉ tiêu đó, không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào tham quan di tích trong ngày. Huế phải tạo thêm lý do để du khách ở lại, chi tiêu và quay trở lại. Những cụm sản phẩm như di sản - nghệ thuật - Festival; ẩm thực - áo dài - thủ công; nghỉ dưỡng - chăm sóc sức khỏe - núi - biển - đầm phá; kinh tế đêm - đường thủy - đô thị di sản; MICE - sự kiện - golf - du lịch cao cấp cần được tổ chức theo thị trường và nhóm khách cụ thể. Mỗi sản phẩm phải trả lời được ba câu hỏi: Dành cho ai, tạo doanh thu thế nào và kéo dài thời gian lưu trú bao nhiêu.
Chuyển đổi số cũng phải được nhìn theo tinh thần đó. Số hóa di sản không phải để có thêm một kho dữ liệu hay thay tờ rơi bằng mã QR. Dữ liệu văn hóa, di sản và du lịch phải trở thành tài sản phát triển, phục vụ nghiên cứu, giáo dục, bảo tàng số, phim ảnh, thiết kế, trò chơi, thực tế ảo và quản trị điểm đến. Thành phố cần sớm xác định dữ liệu nào Nhà nước quản lý, dữ liệu nào được mở cho doanh nghiệp và cộng đồng khai thác, cơ chế chia sẻ giá trị ra sao, đồng thời xử lý từ đầu vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ.
Nhưng điểm quyết định cuối cùng vẫn là tổ chức thực hiện. Kế hoạch đã phân công cơ quan chủ trì, phối hợp, nguồn lực và yêu cầu đánh giá bằng kết quả. Điều cần làm tiếp là xây dựng một ma trận thực hiện thật rõ: nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra, cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực và KPI. Không thể chỉ ghi “hoàn thiện hồ sơ UNESCO”, “xây dựng bảo tàng” hay “phát triển không gian sáng tạo”, mà phải xác định từng mốc hoàn thành, sản phẩm từng năm và hiệu quả cuối cùng.
Nguồn lực cũng cần được phân tầng. Nhà nước phải giữ vai trò dẫn dắt đối với bảo tồn di tích, dữ liệu nền, nghiên cứu và giáo dục di sản; trong khi lưu trú, giải trí, kinh tế đêm, thương mại văn hóa và nhiều sản phẩm sáng tạo cần huy động mạnh nguồn lực doanh nghiệp, xã hội hóa và PPP. Cùng với đó, di sản phải đi vào trường học và cộng đồng; bảo tàng, di tích, làng nghề, sông Hương, áo dài, ẩm thực, nghệ thuật truyền thống phải trở thành những “lớp học mở”. Bởi một trung tâm văn hóa trước hết được làm nên bởi con người và sức sống văn hóa trong đời sống hằng ngày.
Kế hoạch 519 đã trả lời khá đầy đủ câu hỏi Huế cần làm gì. Vấn đề từ nay đến năm 2030 là phải trả lời dứt khoát hơn: Việc gì làm trước, ai chịu trách nhiệm đến cùng, khi nào hoàn thành và hiệu quả đo bằng gì. Từ hệ thống nhiệm vụ rộng lớn, thành phố nên chọn khoảng 10 - 15 nhiệm vụ đột phá để tập trung nguồn lực và kiểm tra tiến độ hằng năm.
Khi mỗi mục tiêu được chuyển thành KPI, mỗi nhiệm vụ có sản phẩm cuối cùng, mỗi thiết chế có thời hạn hoàn thành và mỗi nguồn lực được đặt đúng chỗ, Kế hoạch 519 mới thực sự trở thành một bản đồ hành động. Khi đó, vị thế trung tâm văn hóa, du lịch lớn và đặc sắc của Huế sẽ không chỉ được nhận diện qua số lượng danh hiệu, lễ hội hay lượt khách, mà bằng sức sống văn hóa trong cộng đồng, chất lượng sản phẩm du lịch, khả năng tạo ra giá trị kinh tế từ di sản và sức cạnh tranh ngày càng rõ nét của Huế trên bản đồ văn hóa khu vực.

