Xây dựng thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế: Định vị bản sắc và sáng tạo Việt Nam
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra mục tiêu xây dựng các thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế vào năm 2030, tầm nhìn 2045; định hướng này góp phần nâng tầm các sự kiện, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, định vị bản sắc và sáng tạo Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới.
Cú hích phát triển công nghiệp văn hóa
Cách đây hơn một thập kỷ, nếu nhìn vào bản đồ sự kiện văn hóa mang tầm quốc tế tại Việt Nam, số lượng còn khá khiêm tốn. Trong lĩnh vực điện ảnh, dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội (HANIF), tổ chức lần đầu năm 2010. Trước đó, lĩnh vực lễ hội tổng hợp có Festival Huế - khởi xướng năm 1992 - đóng vai trò tiên phong xây dựng một sự kiện văn hóa định kỳ mang thương hiệu địa phương gắn với di sản.
Ngoài Hà Nội và Huế, đến nay, các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng cũng từng bước xây dựng các liên hoan phim, lễ hội âm nhạc và sự kiện sáng tạo riêng. Sự phát triển này cho thấy nhận thức ngày càng rõ ràng rằng những sự kiện văn hóa quy mô lớn, được tổ chức chuyên nghiệp và có thương hiệu rõ ràng, là cú hích quan trọng để thúc đẩy cả ngành phát triển.

Liên hoan Âm nhạc Quốc tế thành phố Hồ Chí Minh HOZO ra đời năm 2019, nhanh chóng trở thành điểm hẹn thường niên. Ảnh: HOZO
Trong lĩnh vực âm nhạc, Hà Nội ghi dấu ấn với Lễ hội Âm nhạc Gió Mùa (Monsoon Music Festival), ra đời năm 2014. Cùng với các đêm diễn, Gió Mùa định vị là không gian kết nối nghệ sĩ Việt Nam với nghệ sĩ quốc tế, chú trọng các sáng tác nguyên bản và đa dạng thể loại. Qua nhiều mùa tổ chức, Lễ hội đã góp phần thay đổi thói quen thưởng thức âm nhạc của công chúng đô thị, đồng thời mở ra cơ hội cho các nghệ sĩ trẻ tiếp cận môi trường biểu diễn chuyên nghiệp.
Ở phía Nam, HOZO International Music Festival (Liên hoan Âm nhạc Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh Hò Dô) ra đời năm 2019, nhanh chóng trở thành điểm hẹn thường niên được mong đợi. Với định hướng mở cửa, kết nối khu vực và thế giới, HOZO quảng bá hình ảnh một thành phố năng động, từng bước xây dựng hệ sinh thái âm nhạc gắn với du lịch, dịch vụ và truyền thông.
Trong lĩnh vực điện ảnh, mới ra đời nhưng Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng ngày càng tăng số lượng phim tham gia ở các chương trình, phim dự thi, khách mời và các hoạt động. Năm 2025, DANAFF III phát triển rõ nét cả về quy mô và thời lượng khi nâng thời gian tổ chức từ 5 ngày lên 7 ngày, với hơn 100 bộ phim, gần 200 suất chiếu phim tại rạp ngoài trời, tăng gấp đôi so với DANAFF II - 2024…
Năm 2025, Lễ hội Văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ nhất do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Bộ Ngoại giao và UBND thành phố Hà Nội tổ chức. Lễ hội quy tụ 48 quốc gia và tổ chức quốc tế, 23 đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước, 112 đơn vị giới thiệu sách và xuất bản phẩm cùng 22 quốc gia tham gia chương trình chiếu phim quốc tế qua đó tôn vinh sự đa dạng văn hóa và tăng cường giao lưu nhân dân...
Điểm hội tụ của tài năng, nguồn lực và truyền thông
Thực tiễn các liên hoan nghệ thuật, văn hóa quốc tế có uy tín như: Liên hoan phim Cannes, Liên hoan phim Venice hay Lễ hội âm nhạc quốc tế Glastonbury, Coachella... đã chứng minh rằng, một sự kiện có thương hiệu mạnh có thể định hình vị thế văn hóa của quốc gia.
Việt Nam cũng đã nhận thức được điều này. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030, xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Tầm nhìn đến năm 2045, có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế…

Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng với quy mô ngày càng mở rộng và dần khẳng định thương hiệu. Ảnh: BVHTTDL
Theo các chuyên gia, thương hiệu liên hoan, lễ hội quốc tế không thể hình thành chỉ sau một vài mùa tổ chức, mà cần sự kiên trì, đầu tư ổn định và định hướng rõ ràng. Để xây dựng thương hiệu bền vững cần ba yếu tố then chốt. Trước hết, mỗi sự kiện phải có bản sắc riêng, định vị rõ công chúng mục tiêu thay vì “quốc tế hóa” theo cùng một mô hình. Sự kết hợp giữa chất liệu truyền thống và ngôn ngữ sáng tạo đương đại sẽ giúp các liên hoan, lễ hội Việt Nam vừa hội nhập, vừa giữ được dấu ấn riêng. Thứ hai, tính chuyên nghiệp trong tổ chức là nền tảng, từ tuyển chọn tác phẩm đến truyền thông, hậu cần. Cuối cùng, cần cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước và doanh nghiệp, kết hợp định hướng chính sách với nguồn lực tài chính và sự linh hoạt thị trường.
Bên cạnh đó, liên hoan, lễ hội không thể dừng ở những sự kiện mang tính thời điểm, mà cần được đặt trong chiến lược tổng thể về quy hoạch không gian sáng tạo, phát triển du lịch văn hóa, đào tạo nhân lực và xây dựng công chúng. Các liên hoan lớn thường là điểm hội tụ của tài năng, nguồn lực và truyền thông, đồng thời gắn với chợ dự án, hội thảo chuyên ngành, kết nối sản xuất - phát hành. Khi đó, giá trị mang lại không chỉ là doanh thu từ vé, mà còn lan tỏa sang du lịch, dịch vụ, quảng bá hình ảnh quốc gia. Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo hướng này nếu tiếp cận liên hoan, lễ hội như một cấu phần của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Trong tầm nhìn dài hạn, Việt Nam có thể kiến tạo một “bản đồ” liên hoan, lễ hội được định vị theo đặc trưng văn hóa và lợi thế riêng của từng vùng miền, địa phương. Khi được quy hoạch chiến lược và đầu tư bền vững, các liên hoan, lễ hội tầm vóc quốc tế sẽ vượt khỏi khuôn khổ của những cuộc trình diễn nghệ thuật đơn thuần để trở thành đòn bẩy phát triển công nghiệp văn hóa, tạo nên biểu tượng văn hóa của địa phương và quốc gia.













