Xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản vượt khó thành công - Vì sao?

Đồ gỗ và lâm sản là một trong số ít mặt hàng liên tục tăng trưởng kéo dài hơn chục năm qua của ngành Nông nghiệp. Cách đây hơn 20 năm, sản xuất, chế biến đồ gỗ và lâm sản, đặc biệt là đồ gỗ vẫn còn là “chàng trai tí hon” thì chỉ hơn chục năm sau (từ năm 2018) Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên thành “người khổng lồ” khi giữ vị trí số 1 Đông Nam Á, số 2 châu Á và đứng thứ 5 thế giới về sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ. Vậy sản xuất, chế biến đồ gỗ đang gặp khó khăn, thách thức gì?

Xuất khẩu vẫn tăng trưởng

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản (chủ yếu là đồ gỗ) tháng 7-2026 ước đạt 1,61 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 7 tháng đầu năm 2026 đạt 10,81 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Theo các chuyên gia về lâm nghiệp, đây là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh từ đầu năm 2026, ngành sản xuất, chế biến đồ gỗ và lâm sản của Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức như: Rào cản kỹ thuật từ thị trường Mỹ, thuế đối ứng, chuỗi logistics gặp khó khăn, cước vận chuyển tăng giá do xung đột ở nhiều khu vực trên thế giới… Thế nhưng, ngành sản xuất và chế biến đồ gỗ và lâm sản của Việt Nam vẫn có cú “lội ngược dòng” tăng trưởng tích cực.

 Một khu rừng trồng gỗ lớn ở tỉnh Bắc Ninh.

 Một khu rừng trồng gỗ lớn ở tỉnh Bắc Ninh.

Lý giải về “cú lội ngược dòng” này, ông Nguyễn Văn Diện, Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm chia sẻ: Xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 7 tháng đầu năm 2026 có được kết quả khả quan như vậy là nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc chỉ đạo kịp thời, ban hành nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đàm phán thúc đẩy mở rộng các thị trường. Trong đó có chính sách đơn giản hóa thủ tục về hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp được xem là “liều thuốc” khích lệ, động viên doanh nghiệp. Cùng với đó, là sự tham gia chủ động, tích cực của chính các doanh nghiệp trong việc mở rộng, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ.

Năm 2025, giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 18,33 tỷ USD tăng 5,6% so với năm 2024 và tăng 16,0% so với năm 2021, giá trị xuất siêu đạt 15,1 tỷ USD. Những năm gần đây ngành chế biến và xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tiếp tục duy trì tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước, khẳng định vai trò là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Mặc dù xuất khẩu sang Hoa Kỳ từ đầu năm 2026 tiếp tục gặp nhiều khó khăn nhưng Hoa Kỳ hiện vẫn là thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 49,7%. Trung Quốc và Nhật Bản là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 14,9% và 12,5%. So với cùng kỳ năm 2025, giá trị xuất khẩu đồ gỗ từ đầu năm 2026 đến nay sang thị trường Hoa Kỳ giảm 6,5%, trong khi thị trường Trung Quốc tăng 46,5%, thị trường Nhật Bản tăng 5,6%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu đồ gỗ tăng mạnh nhất ở thị trường Hà Lan với mức tăng 2,4 lần.

Vì sao cần phải có chính sách khuyến khích trồng rừng gỗ lớn

Để duy trì đà tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp, sản xuất chế biến đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong kỷ nguyên mới, việc chủ động nguồn nguyên liệu từ rừng trồng sản xuất gỗ lớn trong nước, có nguồn gốc hợp pháp và chất lượng cao phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết, phù hợp với chiến lược phát triển của ngành lâm nghiệp trong giai đoạn tới.

Nguồn nguyên liệu gỗ lớn từ rừng trồng có nguồn gốc hợp pháp, xuất xứ rõ ràng chính là “tấm giấy thông hành” khi xuất khẩu vào các thị trường khó tính, vốn có nhiều rào cản kỹ thuật về nguồn gốc nguyên liệu: Mỹ, EU, Nhật Bản… Trong khi đó, việc sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu từ một số quốc gia ở châu Phi để sản xuất, chế biến luôn tiềm ẩn những rủi ro về nguồn gốc gỗ.

Sản xuất, chế biến đồ gỗ ở một doanh nghiệp tại thành phố Đồng Nai.

Sản xuất, chế biến đồ gỗ ở một doanh nghiệp tại thành phố Đồng Nai.

Chính vì vậy, ngày 3-1-2024, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024-2030 tại Quyết định số 31/QĐ-BNN-LN (sau đây gọi là Kế hoạch), với mục tiêu đến năm 2030 tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu héc-ta.

Kết quả, sau hơn 3 năm thực hiện kế hoạch, cả nước hiện có khoảng 625 nghìn héc-ta rừng trồng sản xuất gỗ lớn, đạt khoảng 62,5% mục tiêu kế hoạch. Trong đó nhiều địa phương đã triển khai, thực hiện và đạt được những kết quả đáng khích lệ; bên cạnh đó cũng còn những địa phương chưa thật sự quan tâm chỉ đạo thực hiện kế hoạch này, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

Để đạt được mục tiêu theo kế hoạch đề ra, vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản số: 8667/BNNMT-LNKL gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024-2030 đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục tập trung chỉ đạo, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp kế hoạch của Bộ để cụ thể hóa thành kế hoạch, phương án triển khai phù hợp với tiềm năng, điều kiện thực tế của địa phương sau khi sáp nhập và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp; xác định chỉ tiêu cụ thể phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn hằng năm và đến năm 2030.

Cùng với đó tổ chức rà soát quỹ đất lâm nghiệp, diện tích rừng trồng sản xuất hiện có; xác định cụ thể diện tích có điều kiện phù hợp để trồng mới, trồng lại rừng sản xuất gỗ lớn và diện tích rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ đủ điều kiện để chuyển hóa sang kinh doanh gỗ lớn. Ưu tiên hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung, ổn định, phù hợp điều kiện sinh thái, gắn với cơ sở chế biến, hệ thống giao thông và thị trường tiêu thụ.

Ứng dụng hiệu quả tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, nâng cao chất lượng giống và trồng rừng; sử dụng giống cây trồng lâm nghiệp đã được công nhận, có nguồn gốc rõ ràng, năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu, bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống từ khâu sản xuất, lưu thông đến sử dụng; lựa chọn loài cây trồng, giống cây phù hợp với điều kiện lập địa, mục đích kinh doanh và nhu cầu thị trường. Áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh, chuyển hóa rừng trồng, gồm xử lý thực bì, làm đất, bón phân, mật độ trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, tỉa thưa, phòng trừ sâu, bệnh và phòng cháy, chữa cháy rừng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tỷ lệ gỗ lớn và hiệu quả đầu tư.

Triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án, kế hoạch và bố trí nguồn ngân sách địa phương. Huy động vốn của doanh nghiệp, người dân, tín dụng, nguồn hỗ trợ quốc tế và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện Kế hoạch. Nghiên cứu trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phù hợp để hỗ trợ phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với cấp chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững. Phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã lâm nghiệp làm đầu mối liên kết các hộ trồng rừng, hình thành vùng nguyên liệu quy mô đủ lớn. Đẩy mạnh xây dựng chuỗi liên kết giữa chủ rừng với doanh nghiệp từ khâu sản xuất giống, trồng rừng, khai thác, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, hạn chế tình trạng thu mua gỗ non, góp phần ổn định thị trường nguyên liệu và ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu rừng trồng gỗ lớn phục vụ chế biến và xuất khẩu.

NGUYỄN KIỂM

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/xuat-khau-do-go-va-lam-san-vuot-kho-thanh-cong-vi-sao-1052537