9 nhiệm vụ xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh

Chính phủ yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển, phát triển kinh tế biển xanh, thông minh và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh trong giai đoạn 2026-2030.

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh minh họa

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh minh họa

Chín nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh được Chính phủ xác định trong Nghị quyết số 218/NQ-CP, ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Chương trình hướng tới thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, mục tiêu và giải pháp về phát triển quốc gia biển mạnh; đồng thời xác định rõ nội dung công việc, cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, kết quả và thời hạn hoàn thành.

Các nhiệm vụ được lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách, quy hoạch và chương trình công tác hằng năm của bộ, ngành, địa phương.

Mục tiêu đến năm 2030 là tăng tỷ trọng đóng góp của các địa phương ven biển, phát triển những ngành kinh tế biển hiện đại, xanh và thông minh; hoàn thiện hạ tầng, nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống người dân vùng biển, đảo.

9 nhiệm vụ xây dựng quốc gia biển mạnh

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai đồng bộ, quyết liệt 9 nhóm nhiệm vụ.

Thứ nhất, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh và hiệu quả quản trị biển quốc gia.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá cho quá trình phát triển.

Thứ ba, huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

Thứ tư, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ năm, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và hình thành những ngành kinh tế biển mới.

Thứ sáu, xây dựng đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia và hình thành các trung tâm kinh tế biển.

Thứ bảy, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.

Thứ tám, xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân và phát huy vai trò của cộng đồng cư dân biển trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ chín, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng bản đồ số không gian biển

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo cùng các lĩnh vực liên quan như đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học và công nghệ.

Hệ thống pháp luật phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định và khả thi; đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn, quy định chồng chéo, mâu thuẫn đang cản trở việc khai thác hiệu quả tiềm năng biển.

Chính phủ yêu cầu hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi. Dự luật cần quy định rõ cơ chế giao, cho thuê, sử dụng và khai thác không gian biển; nghĩa vụ tài chính, trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, phòng ngừa ô nhiễm và xử lý xung đột trong quá trình sử dụng biển.

Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng sẽ được rà soát, cập nhật và điều chỉnh.

Các cơ quan liên quan phải ban hành quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng và sử dụng không gian biển; thiết lập cơ chế cập nhật, điều chỉnh linh hoạt, định kỳ; xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch.

Chính phủ cũng yêu cầu nghiên cứu cơ chế, chính sách đặc thù để kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các đặc khu, đảo tiền tiêu và địa bàn chiến lược.

Phát triển cảng biển xanh và các ngành kinh tế biển mới

Để tạo đột phá về kinh tế biển, các bộ quản lý ngành được giao rà soát chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển, từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại.

Các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ biển thông minh, phát thải thấp, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng sẽ được ưu tiên. Kinh tế biển gần bờ trong phạm vi 12 hải lý cũng được định hướng phát triển.

Với ngành dầu khí, Chính phủ yêu cầu nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên, khoáng sản biển và phát triển công nghiệp dịch vụ kỹ thuật theo hướng bền vững. Cơ chế đặc thù cho các dự án nước sâu, xa bờ, mỏ cận biên và năng lượng ngoài khơi sẽ tiếp tục được hoàn thiện.

Trong lĩnh vực hàng hải, Việt Nam sẽ phát triển hệ thống cảng biển xanh, thông minh, đội tàu vận tải, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển cùng dịch vụ logistics. Hạ tầng cảng biển phải kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không.

Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được rà soát, điều chỉnh. Chính phủ cũng yêu cầu xây dựng, triển khai Chương trình quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.

Ngành thủy sản sẽ được cơ cấu lại theo hướng giảm khai thác ven bờ, phát triển khai thác xa bờ có trách nhiệm và nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao. Hạ tầng, giống, bảo quản, chế biến, bảo hiểm thủy sản và chính sách hỗ trợ ngư dân tiếp tục được hoàn thiện.

Các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) phải được triển khai đồng bộ, hướng tới sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu. Hoạt động quản lý nghề cá, truy xuất nguồn gốc và thực thi pháp luật trên biển cũng được tăng cường.

Việt Nam sẽ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ nuôi biển hiện đại, từng bước hình thành hệ thống lồng nuôi thông minh; phát triển phương tiện, thiết bị nuôi biển, ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và năng lượng tái tạo.

Chương trình đồng thời định hướng phát triển du lịch biển có thương hiệu quốc tế, hình thành các trung tâm và cụm du lịch quy mô lớn; mở rộng du lịch xanh, du lịch tàu biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, kinh tế đêm và lễ hội biển.

Các ngành kinh tế biển mới được ưu tiên gồm nuôi biển công nghệ cao, dược liệu và công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.

Nhật Minh

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/9-nhiem-vu-xay-dung-viet-nam-thanh-quoc-gia-bien-manh.html