Xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm đạt gần 36 tỷ USD
Xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch gần 36 tỷ USD. Nhiều ngành hàng như rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi và hạt tiêu duy trì mức tăng khá, trong khi cà phê, cao su và gạo chịu tác động của biến động giá hoặc sự sụt giảm ở một số thị trường chủ lực...
Xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực với tổng kim ngạch gần 36 tỷ USD. Nhiều ngành hàng như rau quả, thủy sản, sản phẩm chăn nuôi và hạt tiêu duy trì mức tăng khá, trong khi cà phê, cao su và gạo chịu tác động của biến động giá hoặc sự sụt giảm ở một số thị trường chủ lực...

Xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng bứt phấ. Ảnh minh họa.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 6/2026, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam ước đạt 6,34 tỷ USD, tăng 3% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt khoảng 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu xuất khẩu 6 tháng, nhóm nông sản đạt 18,59 tỷ USD, tăng 0,2%; thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%; lâm sản đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,6%; sản phẩm chăn nuôi đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6%; đầu vào sản xuất đạt 2,01 tỷ USD, tăng 79,6%; xuất khẩu muối đạt 7,7 triệu USD, tăng 39,8%.
TRUNG QUỐC LÀ THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT, HOA KỲ THỨ HAI
Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất đối với nông lâm thủy sản Việt Nam, chiếm 44,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Châu Mỹ đứng thứ hai với 21,4%, tiếp theo là châu Âu với 14,4%, trong khi châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,4% và 1,5%.
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng 11%; châu Âu tăng 2,2%; châu Đại Dương tăng 21,1%; trong khi xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 2,3% và châu Phi giảm 17,3%. Điều này cho thấy thị trường châu Á vẫn đóng vai trò động lực chính của xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam trong những tháng đầu năm.
Xét theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất với thị phần 21,3%, tiếp đến là Hoa Kỳ với 19% và Nhật Bản với 6,8%. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 23,1%, sang Nhật Bản tăng 1,6%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 3,6%.
Bức tranh xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 chứng kiến một số mặt hàng chủ lực suy giảm nhẹ về giá trị so với cùng kỳ năm trước; trong đó cà phê đạt 1,1 triệu tấn với giá trị 4,78 tỷ USD, tăng 9,7% về khối lượng nhưng giảm 14,4% về giá trị. Nguyên nhân khiến kim ngạch sụt giảm là do giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt khoảng 4.435 USD/tấn, giảm 22%.
Đức, Italia và Hoa Kỳ là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, lần lượt chiếm 14,1%, 7,9% và 6,9% thị phần.
Đối với mặt hàng cao su, trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt 639,1 nghìn tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, giảm 7,9% về lượng và giảm 4,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 62,4% thị phần. Indonesia và Ấn Độ lần lượt chiếm 6,8% và 6,7%. Xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 15,4%, trong khi Indonesia tăng 2,4 lần và Ấn Độ tăng 28,5%.
Với mặt hàng gạo, trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5,2 triệu tấn với giá trị 2,38 tỷ USD, tăng 9,9% về sản lượng nhưng giảm 2,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này phản ánh lượng gạo xuất khẩu tiếp tục tăng nhưng giá trị thu về chưa tương xứng. Trong các thị trường xuất khẩu, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng nổi bật, trong khi một số thị trường truyền thống có xu hướng giảm.
Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất với 45% thị phần. Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 19,4% và 8,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu sang Philippin giảm 3,8%, Ghana giảm 24,7%, trong khi Trung Quốc tăng tới 87%.
Xuất khẩu hạt điều 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước đạt 338,4 nghìn tấn với kim ngạch 2,39 tỷ USD, giảm 1,8% về lượng nhưng tăng 1,6% về giá trị. Ba thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan với thị phần lần lượt 23%, 21,5% và 8,5%. Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 4,4%, Hà Lan tăng 0,9%, trong khi Hoa Kỳ giảm 0,7%.
MỘT SỐ NGÀNH HÀNG TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Các số liệu cho thấy bức tranh xuất khẩu nông lâm thủy sản trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng, dù mức tăng giữa các nhóm hàng có sự khác biệt. Một số ngành hàng ghi nhận tăng trưởng hai con số nhờ nhu cầu thị trường cải thiện, trong khi một số mặt hàng vẫn chịu tác động của biến động giá thế giới, khiến giá trị xuất khẩu chưa tăng tương ứng với sản lượng.
Đối với hạt tiêu, tháng 6/2026 xuất khẩu đạt khoảng 30 nghìn tấn, trị giá 156,2 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 151,9 nghìn tấn với giá trị 945,9 triệu USD, tăng 23,3% về lượng và tăng 11,6% về giá trị. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 27,9% thị phần, tiếp theo là Đức và Thái Lan. Giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 19,2%, Thái Lan tăng tới 95,1%, trong khi Đức giảm 24,8%.
Rau quả tiếp tục bứt phá khi giá trị xuất khẩu tháng 6 đạt 882,4 triệu USD, đưa kim ngạch 6 tháng lên 3,65 tỷ USD, tăng 17,7%. Trung Quốc là thị trường lớn nhất với 51,2% thị phần, tiếp theo là Hoa Kỳ (8,4%) và Hàn Quốc (5,1%).
Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 27,9%, Hoa Kỳ tăng 12,2% và Hàn Quốc tăng 8,4%, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực của ngành hàng này.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi trong tháng 6/2026 đạt 68,4 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6%. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 100,7 triệu USD, tăng 97,2%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 108,9 triệu USD, tăng 8,8%.
Tháng 6/2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,03 tỷ USD; lũy kế 6 tháng đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%. Ba thị trường tiêu thụ lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản với thị phần lần lượt 25%, 15% và 13,7%. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 41,7%, Nhật Bản tăng 0,8%, trong khi Hoa Kỳ giảm 8,3%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng trưởng mạnh nhất còn Hoa Kỳ giảm mạnh nhất.
Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 6/2026 đạt khoảng 1,53 tỷ USD; lũy kế 6 tháng đạt 8,54 tỷ USD, tăng 4,4%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm gần một nửa tổng kim ngạch với 49,6% thị phần. Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt chiếm 15% và 12,9%.
Giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 8%, trong khi Trung Quốc tăng 49% và Nhật Bản tăng 5,1%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Hà Lan là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,1 lần, trong khi Hàn Quốc giảm mạnh nhất với mức giảm 16,5%.












