Xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt gần 43 tỷ USD, điểm sáng từ rau quả và thủy sản
Kết quả 6,67 tỷ USD đạt được trong tháng 7 đã nâng tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng năm 2026 lên con số gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, chăn nuôi và nhóm vật tư đầu vào tiếp tục là những điểm sáng...
Kết quả 6,67 tỷ USD đạt được trong tháng 7 đã nâng tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng năm 2026 lên con số gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, chăn nuôi và nhóm vật tư đầu vào tiếp tục là những điểm sáng...

Trong bức tranh xuất khẩu nông lâm thủy sản 7 tháng năm 2026, rau quả là điểm sáng nổi bật. Ảnh: Chu Khôi.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 7/2026 ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025; lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4%; lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%; thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%; sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2%; đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD, tăng tới 71,1%; muối đạt 8,8 triệu USD, tăng 40,2%.
TĂNG TRƯỞNG MẠNH Ở THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất đối với các mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, chiếm 45,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ với 21,4%, châu Âu 13,8%, châu Phi 2,3% và châu Đại Dương 1,4%.
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu nông lâm thủy sản sang châu Á tăng 13,2%, châu Âu tăng 1,8%, châu Đại Dương tăng 18,7%; trong khi châu Mỹ giảm 0,5% và châu Phi giảm 20,4%.
Theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất với thị phần 21,9%, tiếp đến là Hoa Kỳ 19% và Nhật Bản 6,8%. Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 24,4%, Nhật Bản tăng 3,9%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 1,6%.
Xuất khẩu gạo tháng 7 ước đạt 505 nghìn tấn với giá trị 252,8 triệu USD. Lũy kế 7 tháng đạt 5,5 triệu tấn, trị giá 2,64 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 6,7% về giá trị.
Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam với thị phần 44,7%; tiếp theo là Trung Quốc 19,1% và Ghana 9,6%. Xuất khẩu sang Philippines tăng 2,3%, Trung Quốc tăng gấp đôi, trong khi Ghana giảm 15,2%.
RAU QUẢ TIẾP TỤC BỨT PHÁ
Rau quả tiếp tục là ngành hàng tăng trưởng nổi bật. Riêng tháng 7/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,13 tỷ USD; lũy kế 7 tháng đạt 4,83 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 55% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt chiếm 7,9% và 4,6%. Giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 24,9%, Hoa Kỳ tăng 11,8% và Hàn Quốc tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với cà phê, tháng 7 xuất khẩu ước đạt 147,6 nghìn tấn, trị giá 639,5 triệu USD; lũy kế 7 tháng đạt 1,2 triệu tấn, trị giá 5,45 tỷ USD, tăng 10,8% về lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị do giá xuất khẩu bình quân chỉ còn 4.537 USD/tấn, giảm 19,9%.
Đức, Italia và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm lần lượt 13,5%, 7,9% và 7,2% thị phần. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc ghi nhận mức tăng mạnh nhất với 76,1%, trong khi Malaysia giảm 23,7%.
Xuất khẩu cao su tháng 7/2026 đạt khoảng 151 nghìn tấn, trị giá 321,2 triệu USD; lũy kế 7 tháng đạt 789,5 nghìn tấn, tương đương 1,55 tỷ USD, giảm 12,3% về lượng và giảm 4,5% về giá trị. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.963 USD/tấn, tăng 8,9%. Trung Quốc chiếm tới 59,5% thị phần nhập khẩu cao su của Việt Nam, tiếp theo là Ấn Độ (7,4%) và Indonesia (7,3%). Xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 35,9%, Indonesia tăng 2,4 lần, trong khi thị trường Trung Quốc giảm 18,1%.
Đối với hạt điều, tháng 7 xuất khẩu đạt 72,3 nghìn tấn, trị giá 516 triệu USD; lũy kế 7 tháng đạt 413,7 nghìn tấn với giá trị 2,91 tỷ USD, tăng 0,3% về lượng và tăng 3,7% về giá trị. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan là ba thị trường lớn nhất với thị phần lần lượt 24,4%, 21,5% và 8%.
Hạt tiêu tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực, khi xuất khẩu tháng 7 đạt 21,9 nghìn tấn, trị giá 143,8 triệu USD; lũy kế 7 tháng đạt 167,9 nghìn tấn và 1,09 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và tăng 10,6% về giá trị. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm 27,4% thị phần, tiếp theo là Đức 6,3% và Thái Lan 4,5%. Trong đó, xuất khẩu sang Thái Lan tăng 67,9%, Hoa Kỳ tăng 18,2%, còn Đức giảm 21,1%.
THỦY SẢN DUY TRÌ TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Ở lĩnh vực chăn nuôi, giá trị xuất khẩu tháng 7/2026 ước đạt 74,4 triệu USD, đưa giá trị 7 tháng lên 455 triệu USD, tăng 33,2%. Trong đó, sữa và sản phẩm sữa đạt 124,2 triệu USD, tăng 95,3%; thịt và phụ phẩm thịt đạt 132,8 triệu USD, tăng 13,3%.
Thủy sản cũng ghi nhận kết quả tích cực với giá trị xuất khẩu tháng 7/2026 ước đạt 1,09 tỷ USD; lũy kế 7 tháng đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%. Ba thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam là Trung Quốc (24,2%), Hoa Kỳ (15,5%) và Nhật Bản (13,9%). Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 38,7%, Nhật Bản tăng 2,4%, trong khi Hoa Kỳ giảm nhẹ 0,8%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Singapore có mức tăng cao nhất, đạt 65,3%.
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 7/2026 ước đạt 1,61 tỷ USD; lũy kế 7 tháng đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,5%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam, chiếm 49,7% thị phần; tiếp theo là Trung Quốc 14,9% và Nhật Bản 12,5%. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 6,5%, trong khi Trung Quốc tăng 46,5% và Nhật Bản tăng 5,6%. Hà Lan là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,4 lần, còn Ấn Độ giảm 37,2%.












