Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang châu Á tiếp tục tăng, Trung Quốc là thị trường lớn nhất

Bức tranh xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục có nhiều điểm sáng khi tổng kim ngạch ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Không chỉ nhiều nhóm hàng duy trì đà tăng trưởng, cơ cấu thị trường xuất khẩu và kết quả thương mại của toàn ngành cũng ghi nhận những chuyển biến đáng chú ý.

 Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: minh họa

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: minh họa

Kim ngạch xuất khẩu tăng 6%, nhiều nhóm hàng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng trong tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,34 tỷ USD, tăng 3% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với kim ngạch 18,59 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%; lâm sản đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,6%; sản phẩm chăn nuôi đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6%; xuất khẩu muối đạt 7,7 triệu USD, tăng 39,8%.

Ở chiều ngược lại, giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 26,68 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại toàn ngành tiếp tục duy trì trạng thái thặng dư, ước đạt 9,2 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2025.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, có ba nhóm hàng đạt thặng dư thương mại trong 6 tháng đầu năm. Trong đó, nhóm lâm sản đạt 7,36 tỷ USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; nhóm thủy sản đạt 4,13 tỷ USD, tăng 17%; nhóm nông sản đạt 1,51 tỷ USD, giảm 60,6%.

Đáng chú ý, có 6 mặt hàng đạt thặng dư thương mại trên 1 tỷ USD. Gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục dẫn đầu với mức xuất siêu 6,73 tỷ USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Cà phê đứng thứ hai với mức xuất siêu 4,58 tỷ USD, giảm 15%. Bên cạnh đó, các mặt hàng rau quả, tôm, gạo và cá tra cũng ghi nhận mức thặng dư thương mại trên 1 tỷ USD.

Những con số trên cho thấy nhiều ngành hàng tiếp tục đóng góp tích cực vào kết quả xuất khẩu của toàn ngành trong nửa đầu năm 2026, đồng thời phản ánh sự khác biệt về kết quả thương mại giữa từng nhóm hàng.

Xuất khẩu sang châu Á tiếp tục tăng, Trung Quốc là thị trường lớn nhất

Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 44,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ với 21,4%, châu Âu chiếm 14,4%, châu Phi chiếm 2,4% và châu Đại Dương chiếm 1,5%.

So với cùng kỳ năm 2025, giá trị xuất khẩu sang châu Á tăng 11%; châu Âu tăng 2,2%; châu Đại Dương tăng 21,1%. Trong khi đó, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 2,3% và châu Phi giảm 17,3%.

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác nhập khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam với thị phần 21,3%. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 19%, tiếp theo là Nhật Bản với 6,8%.

Trong 6 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu sang Nhật Bản tăng 1,6%; trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 3,6%.

Bên cạnh sự thay đổi về thị trường, kết quả xuất khẩu của từng ngành hàng cũng ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý trong nửa đầu năm 2026.

 Rau quả tiếp tục là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao, với kim ngạch xuất khẩu đạt 3,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Ảnh: minh họa

Rau quả tiếp tục là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao, với kim ngạch xuất khẩu đạt 3,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Ảnh: minh họa

Nhiều mặt hàng ghi nhận tăng trưởng, một số ngành hàng biến động về giá trị xuất khẩu

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, rau quả và hạt tiêu là hai mặt hàng ghi nhận kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026.

Trong đó, xuất khẩu rau quả đạt 3,65 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 51,2% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả và tăng 27,9%. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng lần lượt tăng 12,2% và 8,4%.

Hạt tiêu đạt sản lượng xuất khẩu 151.900 tấn với kim ngạch 945,9 triệu USD, tăng 23,3% về lượng và tăng 11,6% về giá trị. Hoa Kỳ, Đức và Thái Lan tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu lớn nhất. Trong đó, xuất khẩu sang Thái Lan tăng 95,1%, còn thị trường Hoa Kỳ tăng 19,2%.

Đối với gạo, lượng xuất khẩu đạt 5,2 triệu tấn, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong khi kim ngạch đạt 2,38 tỷ USD, giảm 2,5%. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá xuất khẩu bình quân giảm 11,3%, xuống còn 459,6 USD/tấn. Philippines tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 45% thị phần, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 87%.

Cà phê cũng ghi nhận mức tăng về sản lượng nhưng giảm về giá trị. Trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 1,1 triệu tấn, tăng 9,7%, song kim ngạch đạt 4,78 tỷ USD, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu bình quân giảm 22%, còn 4.435 USD/tấn. Đức, Italia và Hoa Kỳ tiếp tục là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 70,7%.

Đối với hạt điều, lượng xuất khẩu đạt 338.400 tấn, giảm 1,8%, nhưng kim ngạch vẫn tăng 1,6%, đạt 2,39 tỷ USD nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 3,5%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu lớn nhất.

Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 2 triệu tấn, giảm 12% về lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng 2,2%, đạt 701,9 triệu USD nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 16,2%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm 92,4% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.

Trong khi đó, xuất khẩu cao su đạt 639.100 tấn với kim ngạch 1,23 tỷ USD, giảm 7,9% về lượng và giảm 4,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Đối với chè, lượng xuất khẩu đạt 53.200 tấn với kim ngạch 89,5 triệu USD, giảm lần lượt 8,1% và 7,3%.

Ở chiều nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản trong tháng 6/2026 ước đạt 4,68 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu toàn ngành đạt 26,68 tỷ USD, tăng 11,7%. Hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu đều ghi nhận tăng trưởng, trong đó sản phẩm chăn nuôi đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9%; nông sản đạt 17,08 tỷ USD, tăng 16,1%; lâm sản đạt 1,84 tỷ USD, tăng 19,9%; nhập khẩu muối đạt 20,1 triệu USD, tăng 8,7%.

Những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Bên cạnh những ngành hàng giữ được đà tăng trưởng và mở rộng thị trường, sự biến động về giá xuất khẩu ở một số mặt hàng cũng cho thấy dư địa nâng cao giá trị vẫn còn rất lớn. Trong bối cảnh yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng cao, việc tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường sẽ là những yếu tố quan trọng để nông, lâm, thủy sản Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh và duy trì đà tăng trưởng trong thời gian tới./.

Nguyễn Sơn

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/xuat-khau-nong-lam-thuy-san-sang-chau-a-tiep-tuc-tang-trung-quoc-la-thi-truong-lon-nhat-15676.html