Xuất khẩu nông lâm thủy sản từ 70 đến 100 tỷ USD: Cần những bước đột phá mới
Trong nỗ lực đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số, Chính phủ đang thúc đẩy đồng bộ các động lực phát triển, từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu đến khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mỗi ngành kinh tế đều được đặt trước yêu cầu không chỉ tăng trưởng, mà phải tạo ra những bước đột phá mới.

Điểm mạnh lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam là năng lực sản xuất.
Đối với nông nghiệp, mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD vào năm 2027 là một yêu cầu như vậy.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đã vượt 70 tỷ USD, đánh dấu một bước tiến dài của một nền nông nghiệp từng chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước. Việt Nam đã bước vào nhóm những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu toàn cầu.
Từ nền tảng đó, chỉ trong khoảng hai năm, ngành nông nghiệp phải tạo thêm gần 30 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tương đương quy mô xuất khẩu của nhiều ngành kinh tế quan trọng cộng lại.
Tại Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức ngày 9/7, các chuyên gia và đại diện ngành hàng đều cho rằng mục tiêu này đầy thách thức, nhưng không nằm ngoài tầm với nếu có những giải pháp thực sự đột phá.

Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức ngày 9/7, các chuyên gia và đại diện ngành hàng đều cho rằng mục tiêu này đầy thách thức, nhưng không nằm ngoài tầm với nếu có những giải pháp thực sự đột phá.
Không thể chỉ sản xuất nhiều hơn
Cách dễ hình dung nhất để tăng kim ngạch xuất khẩu là tăng sản lượng. Nhưng đó không thể là con đường chủ yếu.
Diện tích đất nông nghiệp không thể tăng đáng kể. Nguồn nước, lao động và các nguồn lực tự nhiên ngày càng chịu nhiều sức ép. Biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, thiên tai và dịch bệnh đang trực tiếp đe dọa năng lực sản xuất. Việc chạy theo sản lượng bằng cách sử dụng thêm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay khai thác quá mức tài nguyên còn có thể làm suy giảm chất lượng, phá vỡ cân bằng sinh thái và khiến nông sản khó vượt qua các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thế giới.
Quan trọng hơn, sản lượng lớn không tự động chuyển hóa thành giá trị lớn. Việt Nam đã đứng đầu hoặc thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về nhiều sản phẩm như cà phê robusta, hồ tiêu, hạt điều, gạo, thủy sản và một số loại trái cây. Tuy nhiên, không ít sản phẩm vẫn được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, sơ chế hoặc mang thương hiệu của nhà phân phối nước ngoài.
Chúng ta có thể bán rất nhiều tấn nông sản, nhưng phần giá trị lớn nhất đôi khi lại được tạo ra ở những công đoạn nằm ngoài biên giới Việt Nam: chế biến sâu, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phân phối và tiếp cận người tiêu dùng cuối cùng.
Bởi vậy, khoảng cách từ 70 tỷ USD đến 100 tỷ USD không thể được lấp đầy chủ yếu bằng việc tạo ra thêm hàng triệu tấn nguyên liệu. Nó phải được lấp đầy bằng giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị sản phẩm.

Bài toán trung tâm của mục tiêu 100 tỷ USD là: Làm thế nào để biến lợi thế sản xuất của Việt Nam thành năng lực cạnh tranh quốc tế của toàn bộ chuỗi giá trị?
Từ lợi thế sản xuất đến lợi thế cạnh tranh
Điểm mạnh lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam là năng lực sản xuất. Người nông dân cần cù, có khả năng thích ứng cao; điều kiện tự nhiên đa dạng; nhiều vùng sinh thái có thể tạo ra những sản phẩm độc đáo; doanh nghiệp ngày càng năng động; mạng lưới hiệp định thương mại tự do mở ra những không gian thị trường rộng lớn.
Tuy nhiên, sản xuất giỏi mới chỉ tạo ra lợi thế ban đầu. Trong nền kinh tế toàn cầu, thị trường không chỉ mua sản phẩm. Thị trường mua chất lượng ổn định, an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, độ tin cậy của giao hàng, trách nhiệm với môi trường và câu chuyện thương hiệu.
Một lô hàng có thể đạt yêu cầu về hương vị, nhưng vẫn bị từ chối nếu hồ sơ vùng trồng không đầy đủ. Một doanh nghiệp có thể có sản phẩm tốt, nhưng vẫn không thể tiếp cận hệ thống phân phối lớn nếu nguồn cung thiếu ổn định. Một ngành hàng có thể tăng trưởng rất nhanh, nhưng chỉ một số vi phạm về dư lượng hóa chất hay gian lận mã số vùng trồng cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả quốc gia.
Vì vậy, bài toán trung tâm của mục tiêu 100 tỷ USD là: Làm thế nào để biến lợi thế sản xuất của Việt Nam thành năng lực cạnh tranh quốc tế của toàn bộ chuỗi giá trị?
Đó là sự chuyển đổi từ nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất đai, lao động và sản lượng sang nền kinh tế nông nghiệp dựa vào tri thức, công nghệ, tiêu chuẩn, dữ liệu, thương hiệu và năng lực tổ chức.

Một sản phẩm xuất khẩu không bắt đầu ở cửa khẩu. Nó bắt đầu từ giống cây, con; quy trình sản xuất; chất lượng đất và nước; việc sử dụng vật tư nông nghiệp; mã số vùng trồng, vùng nuôi; thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và kiểm nghiệm.
Tổ chức lại chuỗi giá trị
Một sản phẩm xuất khẩu không bắt đầu ở cửa khẩu. Nó bắt đầu từ giống cây, con; quy trình sản xuất; chất lượng đất và nước; việc sử dụng vật tư nông nghiệp; mã số vùng trồng, vùng nuôi; thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và kiểm nghiệm.
Nếu từng mắt xích vận hành tách rời, không ai có thể bảo đảm chất lượng cuối cùng. Nông dân sản xuất theo thói quen; doanh nghiệp chỉ tìm mua khi có đơn hàng; địa phương tập trung tăng diện tích; cơ quan quản lý chủ yếu kiểm tra ở khâu cuối thì rủi ro sẽ luôn thường trực.
Muốn đạt 100 tỷ USD, chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý từng khâu sang tư duy kiến tạo toàn bộ chuỗi giá trị.
Trong chuỗi ấy, doanh nghiệp cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường và tổ chức sản xuất. Hợp tác xã phải trở thành thiết chế liên kết thực chất, giúp hàng nghìn hộ nông dân tuân thủ chung một quy trình, tạo được nguồn cung đủ lớn, ổn định và đồng đều. Người nông dân không chỉ là người bán nguyên liệu, mà phải trở thành một chủ thể có trách nhiệm trong chuỗi giá trị.
Liên kết cũng phải được bảo đảm bằng hợp đồng minh bạch, cơ chế chia sẻ lợi ích và chia sẻ rủi ro. Không thể xây dựng vùng nguyên liệu bền vững nếu doanh nghiệp bỏ hợp đồng khi giá giảm hoặc người sản xuất phá vỡ cam kết khi giá thị trường tăng. Chuỗi giá trị chỉ có thể tồn tại khi lòng tin được nâng đỡ bằng những thiết chế đủ mạnh.

Dư địa lớn nhất để tăng kim ngạch không chỉ nằm ở việc mở thêm diện tích hay tăng thêm sản lượng, mà ở việc kéo dài chuỗi giá trị ngay tại Việt Nam.
Chế biến sâu để bán nhiều giá trị hơn
Dư địa lớn nhất để tăng kim ngạch không chỉ nằm ở việc mở thêm diện tích hay tăng thêm sản lượng, mà ở việc kéo dài chuỗi giá trị ngay tại Việt Nam.
Một kilogram cà phê nhân có giá trị rất khác một kilogram cà phê rang xay mang thương hiệu Việt Nam. Gỗ nguyên liệu có giá trị khác đồ nội thất được thiết kế tinh tế. Trái cây tươi có thời hạn bảo quản ngắn và dễ phụ thuộc vào mùa vụ, trong khi nước ép, thực phẩm sấy, tinh dầu, dược liệu hay nguyên liệu mỹ phẩm có thể tiếp cận nhiều phân khúc thị trường hơn.
Chế biến sâu không chỉ làm tăng giá trị. Nó còn giúp giảm áp lực tiêu thụ theo mùa vụ, tận dụng phụ phẩm, hạn chế tổn thất sau thu hoạch và tạo khả năng điều tiết cung ứng.
Muốn thúc đẩy quá trình này, cần một hệ thống chính sách đồng bộ hơn về tín dụng dài hạn, đất đai cho các cơ sở chế biến, khoa học và công nghệ, chuyển giao thiết bị, năng lượng, xử lý môi trường và phát triển công nghiệp phụ trợ. Đầu tư vào chế biến nông sản thường có thời gian hoàn vốn dài, trong khi nguồn nguyên liệu và giá cả biến động. Nếu chỉ dựa vào tín dụng thương mại ngắn hạn, rất khó hình thành những trung tâm chế biến đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Cần coi công nghiệp chế biến nông sản là một bộ phận quan trọng của chiến lược công nghiệp quốc gia, chứ không chỉ là công đoạn phụ trợ cho sản xuất nông nghiệp.
Tiêu chuẩn và dữ liệu phải trở thành hạ tầng xuất khẩu
Trong thương mại hiện đại, sản phẩm vật chất chỉ là một phần của hàng hóa. Phần còn lại là dữ liệu chứng minh sản phẩm ấy được sản xuất ở đâu, bằng quy trình nào, sử dụng những loại vật tư gì, phát thải ra sao và có thể truy xuất trách nhiệm đến chủ thể nào.
Bởi vậy, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, nhật ký sản xuất, kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc không thể tiếp tục được coi là thủ tục làm sau để hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu. Đó phải là hạ tầng căn bản của nền nông nghiệp.
Cần nhanh chóng xây dựng một nền tảng dữ liệu thống nhất, kết nối từ người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, địa phương đến các cơ quan kiểm dịch, hải quan và quản lý thị trường. Dữ liệu phải được cập nhật theo thời gian thực, có khả năng kiểm chứng và tương thích với yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Khi dữ liệu được số hóa đầy đủ, cơ quan quản lý có thể chuyển mạnh từ kiểm tra dàn trải sang quản lý rủi ro; doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ
Khi dữ liệu được số hóa đầy đủ, cơ quan quản lý có thể chuyển mạnh từ kiểm tra dàn trải sang quản lý rủi ro; doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ; người mua quốc tế có thể xác minh nhanh chóng nguồn gốc sản phẩm. Đây không chỉ là chuyển đổi số. Đây là cách kiến tạo lòng tin số cho nông sản Việt Nam.
Mở cửa thị trường phải đi cùng năng lực giữ thị trường
Trong những năm qua, ngoại giao kinh tế và đàm phán kỹ thuật đã giúp nhiều loại nông sản Việt Nam tiếp cận các thị trường mới. Nhưng ký được một nghị định thư hay mở được một cánh cửa thị trường mới chỉ là bước đầu.
Giữ được thị trường và khai thác hiệu quả thị trường ấy khó hơn mở cửa thị trường.
Muốn giữ thị trường, chất lượng phải ổn định từ lô hàng đầu tiên đến những lô hàng sau. Những cảnh báo về kiểm dịch, dư lượng hay gian lận xuất xứ phải được xử lý ngay từ vùng sản xuất, thay vì chờ hàng đến cửa khẩu mới phát hiện. Mỗi sự cố không chỉ gây thiệt hại cho một doanh nghiệp mà còn làm suy giảm uy tín của cả ngành hàng và quốc gia.
Cùng với việc khai thác tốt hơn các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc, cần đa dạng hóa sang Trung Đông, Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh và các thị trường ngách có giá trị cao.
Tuy nhiên, đa dạng hóa thị trường không có nghĩa là đưa cùng một sản phẩm đến mọi nơi. Mỗi thị trường có thị hiếu, tiêu chuẩn, quy mô đóng gói và hệ thống phân phối khác nhau. Xuất khẩu hiệu quả đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường đến từng phân khúc và thiết kế sản phẩm phù hợp với từng nhóm người tiêu dùng.
Thương hiệu quốc gia phải được tạo nên từ những thương hiệu doanh nghiệp mạnh
Nông sản Việt Nam đã có vị thế đáng kể về sản lượng, nhưng dấu ấn thương hiệu trên thị trường thế giới vẫn chưa tương xứng.
Thương hiệu không chỉ là tên gọi hay biểu tượng in trên bao bì. Thương hiệu là một lời cam kết về chất lượng, sự nhất quán và giá trị mà người tiêu dùng có thể tin cậy. Không thể xây dựng thương hiệu bằng một chiến dịch truyền thông ngắn hạn nếu phía sau nó không có vùng nguyên liệu chuẩn hóa, quy trình sản xuất đáng tin cậy và hệ thống phân phối chuyên nghiệp.
Nhà nước có thể hỗ trợ xây dựng hình ảnh quốc gia, bảo hộ chỉ dẫn địa lý, chống xâm phạm thương hiệu và xúc tiến thương mại. Nhưng thương hiệu được hình thành trên thị trường phải do doanh nghiệp tạo dựng. Việt Nam cần nhiều hơn những doanh nghiệp đủ năng lực tổ chức chuỗi cung ứng, đầu tư dài hạn cho nghiên cứu sản phẩm, thiết kế bao bì, tiếp thị và hệ thống phân phối quốc tế.
Đích đến không chỉ là đưa nhiều hàng hóa Việt Nam ra nước ngoài, mà là làm cho người tiêu dùng thế giới nhận biết, lựa chọn và sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm Việt Nam.

Điều Việt Nam cần hướng tới không chỉ là xuất khẩu nhiều nông sản hơn, mà là xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu
Cần một cơ chế điều phối đủ mạnh
Mục tiêu 100 tỷ USD liên quan đến nhiều ngành và nhiều cấp: nông nghiệp, công thương, tài chính, ngoại giao, khoa học và công nghệ, giao thông, hải quan, kiểm dịch, ngân hàng, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp.
Nếu mỗi cơ quan chỉ hoàn thành tốt phần việc riêng của mình mà không có một cơ chế điều phối thống nhất, các điểm nghẽn nằm giữa các cơ quan sẽ rất khó được giải quyết. Tại tọa đàm ngày 9/7, nhiều đại biểu đề xuất cần có một tổ điều hành hoặc cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh để kết nối toàn bộ chuỗi từ sản xuất, chế biến, logistics đến xuất khẩu.
Đây là một đề xuất đáng được xem xét nghiêm túc.
Cơ chế điều phối ấy không nhất thiết tạo thêm một tầng nấc hành chính. Điều cần thiết là một đầu mối có đủ thẩm quyền xác định mục tiêu cho từng ngành hàng, phân công rõ trách nhiệm, theo dõi tiến độ, công khai kết quả và xử lý ngay những vướng mắc vượt quá thẩm quyền của một bộ hoặc một địa phương.
Mục tiêu 100 tỷ USD cần được phân chia thành những chương trình hành động cụ thể: ngành hàng nào có thể tăng thêm bao nhiêu; thị trường nào còn dư địa; bao nhiêu vùng nguyên liệu cần được chuẩn hóa; bao nhiêu cơ sở chế biến cần được đầu tư; những thủ tục nào phải được rút ngắn; những nghị định thư nào phải được ưu tiên đàm phán.
Không thể điều hành một mục tiêu lớn chỉ bằng quyết tâm chung chung. Phải có dữ liệu, cột mốc, người chịu trách nhiệm và cơ chế kiểm đếm kết quả.
Đồng thời, không thể không nhắc đến câu chuyện thể chế. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã lưu ý tại phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật ngày 8/6: Thể chế phải tạo đột phá cho phát triển, là nền tảng cho phát triển; các Bộ trưởng, trưởng ngành phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp quản lý khi xây dựng, chính sách pháp luật, không vì lợi ích cục bộ, lợi ích ngành làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung.
Một phép thử của năng lực tổ chức
Mục tiêu 100 tỷ USD và cao hơn nữa không đơn thuần là câu chuyện tăng thêm 30 tỷ USD kim ngạch. Đây là phép thử đối với khả năng tổ chức lại một ngành kinh tế có hàng chục triệu người tham gia và liên quan trực tiếp đến sinh kế của phần lớn dân cư nông thôn.
Nếu đạt được mục tiêu bằng cách khai thác thêm tài nguyên, chạy theo sản lượng hoặc phụ thuộc vào một vài thị trường, thành tích ấy sẽ khó bền vững. Nhưng nếu 100 tỷ USD được tạo nên từ chế biến sâu hơn, tiêu chuẩn cao hơn, dữ liệu minh bạch hơn, thương hiệu mạnh hơn và thu nhập của người nông dân cao hơn, thì con số ấy sẽ đánh dấu một bước chuyển thực sự về chất của nền nông nghiệp.
Bởi vậy, điều Việt Nam cần hướng tới không chỉ là xuất khẩu nhiều nông sản hơn, mà là xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu.










