Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc chuyển từ lượng sang chất

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nông sản Việt Nam, đồng thời mở thêm cơ hội cho nhiều mặt hàng rau quả xuất khẩu chính ngạch. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa tăng trưởng, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.

Thị trường tỷ dân vẫn còn nhiều dư địa

Ngày 24/6, Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại TP. Hồ Chí Minh, Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam tổ chức Diễn đàn thương mại Nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất.

Tại diễn đàn, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ nhận định, Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, trong đó hợp tác kinh tế - thương mại, đặc biệt là thương mại nông sản, đã ghi nhận nhiều kết quả nổi bật. Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, an toàn và thông minh ngày càng phát triển, dư địa hợp tác giữa hai nước rất lớn.

Toàn cảnh Diễn đàn thương mại Nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất Ảnh: Nguyễn Thủy

Toàn cảnh Diễn đàn thương mại Nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất Ảnh: Nguyễn Thủy

Điểm những kết quả tích cực, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quốc Mạnh cho biết hai nước đã ký nhiều Nghị định thư cho các sản phẩm như: sầu riêng, măng cụt, mít, chuối, dừa, chanh leo, khoai lang, thạch đen và sầu riêng đông lạnh. Đồng thời, hai bên đang đàm phán, hoàn thiện điều kiện xuất khẩu đối với nhãn, vải, chôm chôm, xoài, thanh long và nhóm cây có múi.

Sầu riêng là điểm sáng trong xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc, với hơn 3 triệu tấn sầu riêng tươi và gần 190.000 tấn sầu riêng đông lạnh xuất khẩu trong giai đoạn 2021 - 2025. Dù đã có mặt tại hàng chục thị trường, hơn 95% sản lượng xuất khẩu vẫn được tiêu thụ tại Trung Quốc. Đây cũng là thị trường tiêu thụ chủ lực của mít Việt Nam, chiếm khoảng 99% trong tổng số hơn 3,2 triệu tấn mít xuất khẩu.

Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước đang chuyển từ trao đổi thương mại nông sản sang xây dựng chuỗi cung ứng toàn diện. Hiện Trung Quốc là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương vượt 290 tỷ USD. Riêng quý I/2026, xuất khẩu nông sản, thực phẩm của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 37,4%, cao gấp hơn 6 lần tốc độ tăng trưởng chung.

Trong lĩnh vực rau quả, Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ hai cho thị trường Trung Quốc, chiếm 22,55% thị phần. Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt 5,5 tỷ USD, tương đương 64% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Đại sứ Hà Vĩ cho rằng việc mở rộng xuất khẩu chính ngạch giúp nông sản Việt Nam có đầu ra ổn định hơn, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng Trung Quốc đối với các sản phẩm nhiệt đới chất lượng cao.

Đánh giá về triển vọng hợp tác thời gian tới, ông cho biết hiện đã có hơn 20 loại rau quả của Việt Nam được phép xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc. Đây là nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục mở rộng hợp tác nông nghiệp, nhất là trong bối cảnh quan hệ chính trị ngày càng tin cậy, hạ tầng kết nối được cải thiện và chuyển đổi số đang được đẩy mạnh trong lĩnh vực thương mại nông sản.

Cuộc đua nằm ở chất lượng và chuỗi cung ứng

Tuy nhiên, các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu khắt khe hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon. Riêng Trung Quốc đang siết chặt quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và các yêu cầu về kiểm dịch thực vật. Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình cho rằng, điều này đang tạo áp lực, buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi, chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, từ xuất khẩu theo nhu cầu ngắn hạn sang đáp ứng các tiêu chuẩn dài hạn của thị trường. Nếu trước đây xuất khẩu chủ yếu dựa vào lợi thế sản lượng và vị trí địa lý thì hiện nay cần chuyển sang mô hình cạnh tranh bằng chất lượng, độ an toàn và tính minh bạch của sản phẩm.

Đồng quan điểm, ông Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), cho rằng dư địa tăng trưởng lớn nhất của ngành rau quả trong những năm tới có thể không nằm ở trái cây tươi mà ở các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao hơn. Theo ông, trong giai đoạn hợp tác tiếp theo, chế biến sâu cần được xem là một động lực tăng trưởng quan trọng của ngành rau quả.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông Khuê cho rằng, cần đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc, chất lượng đồng đều và nguồn cung ổn định. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước trong lĩnh vực logistics, kho lạnh, chế biến và phân phối. Ngoài ra, thúc đẩy kết nối trực tiếp giữa các doanh nghiệp để hình thành các chuỗi cung ứng dài hạn, ổn định và cùng có lợi. Khi đó, nông sản Việt Nam không chỉ bán được nhiều hơn mà còn giữ lại được phần giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng.

Dư địa rộng lớn cho trái cây Việt Nam tại thị trường Trung Quốc. Ảnh: BTC

Dư địa rộng lớn cho trái cây Việt Nam tại thị trường Trung Quốc. Ảnh: BTC

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của ngành rau quả hiện nay là quá trình thẩm định và cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo doanh nghiệp, tốc độ phê duyệt hiện chưa theo kịp nhu cầu mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, đề xuất Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) tăng cường hình thức kiểm tra trực tuyến đối với các vùng trồng và cơ sở đóng gói đã nộp hồ sơ; đồng thời xem xét cơ chế phối hợp với các tổ chức giám định uy tín tại Việt Nam nhằm rút ngắn thời gian thẩm định.

Doanh nghiệp cũng kiến nghị xây dựng cơ chế "luồng xanh" trong thông quan, giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế tại cửa khẩu để bảo đảm chất lượng và độ tươi của nông sản. Bên cạnh đó, cơ quan kiểm dịch hai nước cần sớm xây dựng và chia sẻ hệ thống dữ liệu chung về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc tra cứu và cập nhật thông tin.

Nhấn mạnh vai trò của hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh và công nghệ truy xuất nguồn gốc, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho rằng đây là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả thông quan, giảm chi phí logistics và tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Ông đề xuất hai bên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp, tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp chế biến và logistics, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của toàn chuỗi ngành hàng.

Trúc Oanh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/xuat-khau-nong-san-sang-trung-quoc-chuyen-tu-luong-sang-chat-10421493.html