Xuất khẩu nông sản Việt Nam đạt kỷ lục 70,09 tỷ USD năm 2025
Năm 2025, xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lập kỷ lục với mức giá trị kim ngạch cao nhất từ trước tới nay - 70,09 tỷ USD, tăng đến 70 lần so với trước thời kỳ đổi mới, tốc độ tăng bình quân 10 - 12%/năm.

Toàn cảnh cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Thông tin này được đưa ra tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 6/1/2026. Theo đó, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn đạt được kết quả đáng ghi nhận khi tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước, là mức kim ngạch cao nhất từ trước tới nay, vượt mục tiêu (65 tỷ USD) với sự tăng trưởng của hầu hết các mặt hàng.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,7% và 1,4%. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam cả năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 5,8%; châu Mỹ tăng 7,2%; châu Âu tăng 34,2%; châu Phi tăng 68,1%; và châu Đại Dương tăng 9%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,3%, Hoa Kỳ với thị phần 20,6%, và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS lớn nhất của Việt Nam. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam cả năm 2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 15,9%, Hoa Kỳ tăng 5,4%, và Nhật Bản tăng 20,5%.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu tại buổi họp báo
Nông sản Việt Nam tiếp tục duy trì 10 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đặc biệt có 3 nhóm hàng đạt trên 08 tỷ USD (sản phẩm gỗ đạt 17,3 tỷ USD tăng 6,4%, cà phê đạt 8,5 tỷ USD tăng 52,5%, rau quả đạt 8,6 tỷ USD tăng 19,8%). Thị trường xuất khẩu tiếp tục được duy trì tại 03 thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản; ngoài ra xuất khẩu nông sản trong năm 2025 cũng ghi nhận sự tăng trưởng và mở rộng thị phần tại các khu vực như châu Á, châu Âu, châu Đại dương, đặc biệt là Châu Phi tăng đến 67,4%.
Năm 2026, khó khăn, thách thức tiếp tục gia tăng, nhất là tác động của biến đổi khí hậu; suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực và sinh kế người dân. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý ngày càng toàn diện, việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, tăng trưởng xanh, bảo tồn thiên nhiên và chuyển đổi mô hình nông nghiệp phát thải thấp đặt ra áp lực lớn về nguồn lực và năng lực quản lý.
Trước yêu cầu đó, mục tiêu năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội đất nước. Toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%)".
Nhằm duy trì và thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra một số giải pháp cụ thể. Tập trung rà soát, hoàn thiện chính sách pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quản lý chất lượng nông lâm sản, thủy sản, đảm bảo hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh, liên kết phát triển các chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao, đảm bảo ATTP, phát triển thị trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng xây dựng cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản trong tiếp cận vốn, đất đai, các chính sách ưu đãi và các nguồn lực khác.
Phát triển triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, tăng tỷ trọng chế biến sâu để giảm chi phí, nâng cao giá trị sản phẩm. Quản trị an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị. Phát triển các cụm liên kết sản xuất gắn với vùng nguyên liệu, các hình thức hợp tác liên kết sản xuất, chế biến kết nối với hệ thống tiêu thụ trong nước và quốc tế…










