Xứng danh 'Đệ nhất danh trà' (kỳ 1 - Lớn lên từ ký ức)
Ngày 8/12/2025, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam ban hành quyết định công nhận quần thể 12 cây chè Shan tuyết cổ tại xã Đồng Phúc là Cây Di sản Việt Nam.
Đây là sự ghi nhận thêm cho giá trị đặc sắc của vùng chè Thái Nguyên, nơi cây chè đã bén rễ, lan tỏa và gắn bó với đời sống người dân hơn một thế kỷ. Cùng Tân Cương, La Bằng, Trại Cài và Khe Cốc, Đồng Phúc góp phần tạo nên “Ngũ đại danh trà”, làm nên danh tiếng “Đệ nhất danh trà” của Thái Nguyên. Hành trình ấy được viết nên từ đất, cây chè và những thế hệ người làm chè.
Kỳ 1: Lớn lên từ ký ức
Từ một hành trình đưa giống chè trung du vượt núi, băng rừng về bén rễ trên đất Tân Cương cách đây hơn một thế kỷ, cây chè đã từng bước lan tỏa trên những triền đồi Thái Nguyên.
Qua bao thế hệ, từ cách trồng, chăm sóc đến chế biến, người Thái Nguyên không ngừng tìm tòi, đổi mới để nâng tầm giá trị cây chè. Và khi ngồi bên trản trà, tĩnh tâm để thưởng vị trà, cũng là lúc nhận ra cây chè đã cùng chủ nhân vùng đất lớn lên từ ký ức.

Cây chè đã bén rễ sâu vào đất, đời sống và văn hóa, tạo nên những vùng chè mang đậm dấu ấn Thái Nguyên. Trong ảnh: Vùng chè La Bằng - một trong những "Ngũ đại danh trà" của tỉnh.
Một thế kỷ dựng nên xứ Trà
Nhờ thổ nhưỡng phù hợp cho cây chè phát triển, sản phẩm chè Thái Nguyên có những đặc trưng riêng so với nhiều vùng chè khác trong cả nước. Cùng đất tốt, nước lành còn có sự chuyên tâm của người nông dân đã làm cho cây chè trở nên nổi tiếng. Hơn thế, trong chè Thái Nguyên còn chất chứa một niềm đam mê, trách nhiệm, đó là lề lối làm ăn, không đặt lợi nhuận lên hàng đầu.
Ông Mai Viết Ái, xóm Gò Pháo, xã Tân Cương, tự hào nói: Ở Thái Nguyên, hầu hết người dân đều biết đến câu chuyện kể về một làng quê bên chân núi Guộc, xã Tân Cương. Câu chuyện kể về cụ Đội Năm (Nguyễn Văn Hiệt) đã cùng nhân dân địa phương cải biến một vùng đất đầy cỏ guột, lau lách thành một miền quê trù phú.
Năm 1920, cụ Đội Năm đã cùng một số người dân vùng Tân Cương tay nải, cơm nắm, vượt rừng băng đèo sang Phú Thọ lấy hạt chè giống về trồng bên bãi soi bồi ven dòng sông Công. Bất chấp gian khổ đường trường với muỗi mòng, đôi chân mỏi mệt bị vắt cắn bật máu, nghe từ xa vẳng lại tiếng thú dữ gầm gừ nhưng lòng người không nản. Vì ai nấy đều tin rằng những hạt chè giống đi trên lưng người sẽ làm thay đổi cuộc sống.

Thu hái chè đổi công, một nét đẹp ở vùng chè xã Đồng Hỷ.
Không phụ công người, năm 1935, sản phẩm chè Tân Cương mang nhãn hiệu “Cánh Hạc” được ghi nhận giành giải Nhất tại Hội chợ Đấu Xảo (Hà Nội). Sự kiện ấy góp phần đưa danh tiếng chè Tân Cương vượt ra khỏi phạm vi địa phương, mở đầu cho một hành trình dài để thương hiệu chè Thái Nguyên được biết đến rộng rãi.
Đời người như tấc gang, mới đó đã trăm năm. Những hạt giống từ ít vuông chè năm xưa đã bén rễ, trở thành những vùng chè bạt ngàn. Một thời với các nông trường chè Quân Chu, Bắc Sơn, Sông Cầu, Phú Lương, Đại Từ..., người công nhân í ới gọi nhau lên đồi theo tiếng kẻng.
Rồi cơ chế thị trường ra đời, cách tổ chức sản xuất của nông trường không còn phù hợp, các nông trường lặng lẽ giải thể, đất được giao lại cho người trồng chè.
Thuận theo sự phát triển kinh tế - xã hội, nông dân vùng chè nhận thức rõ muốn tồn tại, phát triển, đưa cây chè trở thành cây kinh tế chủ lực mang lại nguồn lợi kinh tế, các hộ làm chè đã liên kết lại với nhau thành tổ hợp tác và hợp tác xã.
Ông Nguyễn Xuân Nang, thành viên Hợp tác xã chè La Bằng, chia sẻ: Cơ chế thị trường, nông dân chúng tôi hợp nhau lại để cùng xây dựng vùng nguyên liệu, qua đó tạo được sản phẩm chất lượng cao.


Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, máy móc vào sản xuất, chế biến chè ngày càng phổ biến, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Ngược thời gian, từ năm 2000, những vùng chè ở Thái Nguyên được mở rộng. Cùng giống chè trung du truyền thống, các giống chè lai như: LDP1, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, TRI777... được nông dân đón nhận, trồng mới và trồng thay thế diện tích chè già cỗi của gia đình.
Chia sẻ với chúng tôi, ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè tỉnh Thái Nguyên, cho biết: Đó là một bước chuyển quan trọng, người trồng chè được chủ động, tự quyết định cho sự lựa chọn giống chè để trồng trên phần đất của gia đình.
Hiện, toàn tỉnh có gần 25.000ha chè, trong đó hơn 23.000ha đang cho thu hoạch. Riêng năm 2025 nông dân các vùng chè của tỉnh đã trồng mới, trồng lại 336ha chè. Chủ yếu là giống chè lai và chè trung du.
Chất lượng chè được nâng cao đã mang lại cho cây chè Thái Nguyên thương hiệu mạnh. Theo đó, giá bán sản phẩm chè đạt cao. Doanh thu bình quân đối với sản xuất chè đạt từ 420 đến 550 triệu đồng/ha/năm. Với riêng vùng chè đặc sản, cá biệt đạt từ 1,5 đến hơn 2 tỷ đồng/ha/năm.
Từ ký ức đến tương lai công nghệ
Cùng mở rộng diện tích, người làm chè Thái Nguyên đang chuyển từ tư duy trồng nhiều sang trồng tốt, chế biến tốt và nâng cao giá trị sản phẩm chè. Theo đó, diện tích chè được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và các tiêu chuẩn tương đương ngày càng tăng.
Theo số liệu tổng hợp của ngành Nông nghiệp, hiện trên toàn tỉnh có gần 6.500ha chè được chứng nhận GAP và tương đương; hơn 125ha chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

Thu hái chè tại vùng chè đặc sản Tân Cương, nơi cây chè đã gắn bó với người dân qua nhiều thế hệ.
Trong sản xuất hiện nay, người trồng chè quan tâm nhiều hơn đến đất, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; chú trọng ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định. Đặc biệt, có nhiều hợp tác xã mở rộng liên kết với các hộ dân, qua đó hình thành chuỗi sản xuất từ vùng nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.
Ở các vùng chè Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc, Bằng Phúc và nhiều vùng chè khác của tỉnh, màu xanh của cây chè đã trở thành một phần không thể thiếu của cảnh quan và đời sống. Những vùng chè đang thức dậy cùng chủ nhân bước vào kỷ nguyên mới.
Không chỉ trong đội hình “Ngũ đại danh trà”, nhiều vùng chè của tỉnh đã và đang được bà con nông dân xây dựng thành điểm đến, trở thành địa chỉ văn hóa được nhiều du khách quan tâm.
Một cơ hội mới đang mở ra trên các vùng chè bởi một thế hệ nông dân mới, có trình độ học vấn, có năng lực tư duy mới, am hiểu khoa học, làm chủ công nghệ và tâm huyết với cây chè.
Chuyện làm chè, ông Hoàng Văn Sì, xóm Phú Đô, xã Vô Tranh, cho biết: Trên cơ sở kế thừa truyền thống, thế hệ nông dân mới đã và đang đưa cây chè Thái Nguyên sang một bước phát triển mới tiên tiến, hiện đại, phù hợp với trào lưu kinh tế thế giới. Ví như việc nhiều nông dân thực hiện phun thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè bằng thiết bị bay không người lái; hệ thống tưới nước cho chè được điều khiển bằng điện thoại di động có kết nối internet; trên sản phẩm chè được đóng gói có mã QR.
Những phần mềm quản lý giúp theo dõi vùng nguyên liệu. Công nghệ IoT, AI, GIS đang được nghiên cứu, ứng dụng để hỗ trợ giám sát sâu bệnh, dự báo năng suất và quản lý sản xuất.
Hiện có 100% số hộ trồng chè của tỉnh thực hiện chế biến chè bằng máy chạy điện; 80% số hộ đã đầu tư công nghệ đóng gói tự động và sử dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Hầu hết các cơ sở sản xuất, chế biến chè đã đưa sản phẩm lên các nền tảng số để quảng bá và tiêu thụ.
Chia sẻ với chúng tôi, bà Nguyễn Thị Huế, xóm Minh Tiến, xã Đồng Hỷ, nói như một đúc kết: Ở Thái Nguyên, cây chè đã đi một chặng đường rất dài. Từ những hạt giống năm xưa cụ Đội Năm cùng bà con nông dân mang về từ bên kia núi Tam Đảo, đến nay là những vùng chè trải dài khắp các triền đồi; nhiều sản phẩm chè đạt thương hiệu mạnh và được giao bán trên môi trường số.

Ông Peter Henk Prins, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Đất, Nước và Nông nghiệp (Hà Lan), thăm quy trình sản xuất chè hữu cơ tại mô hình ở xã Quang Sơn, tỉnh Thái Nguyên.
Nhưng có một điều dường như chưa bao giờ thay đổi, đó là tình cảm của người Thái Nguyên dành cho cây chè. Bởi phần lớn các vùng chè truyền thống đều có sự gắn bó máu thịt với các thế hệ nông dân.
Nhiều người đang làm chè hiện nay là thế hệ thứ tư, thứ năm trong gia đình. Bên ấm trà, câu chuyện về những lam lũ, tảo tần của người vùng chè tái hiện như từng thước phim sống động.
Chỉ riêng khâu chế biến chè cũng đã có một tiến trình dài. Xa xưa, tổ tiên hái lá chè mang phơi khô, nấu nước uống. Đến “thuở các cụ”, chè sau khi thu hái được luộc hoặc sao héo rồi mang phơi khô. Tiến thêm một bước quan trọng trong chế biến là làm chè sao suốt. Có lẽ đó là một phát minh lớn đối với lịch sử ngành chè Việt Nam. Phát minh đó thuộc về dân gian.
Sao chè là một công việc nặng nhọc, bên bếp lửa giữa độ hè, hơi nóng vắt kiệt mồ hôi người nông dân. Trong gian khổ, những sáng kiến nảy nở. Vẫn ở công đoạn chế biến, bà con thay chảo gang bằng tấm tôn phẳng, rồi máy tôn quay bằng sức người, sau nữa được cải tiến thêm mô tơ kéo. Và nhờ có máy vò chè chạy điện, nông dân hết cảnh vò chè bằng đôi chân trần. Giảm bớt mồ hôi mà năng suất, chất lượng, giá trị chè được nâng cao.
Cây chè đã lớn lên cùng những đổi thay của Thái Nguyên. Vì thế, chè không đứng ngoài những bước chuyển của nông nghiệp, lặng lẽ với mùa vụ được, mất. Từ bếp sao chè thủ công đến công nghệ chế biến hiện đại; từ việc người làm chè vai gánh, tay xách đến gian hàng bán chè trực tuyến là chặng đường dài hơn 100 năm.
Bên bếp lửa nhà sàn, ông Mùng Văn Thời, thôn Nà Bay, xã Đồng Phúc, tự hào: Chè làm ra được giao bán trên không gian mạng. Nhưng dù đi xa đến đâu, cây chè vẫn lớn lên từ đất và có đôi bàn tay nông dân tảo tần chăm bẵm.Từ một ký ức nhỏ bên chân núi Guộc, cây chè đã trở thành niềm tự hào của một vùng đất.
Ngoài giá trị kinh tế, cây chè còn chất chứa những giá trị văn hóa tinh hoa, thể hiện rõ nhất bên ấm trà, nơi bao câu chuyện về đời người, đời chè được kể.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/xung-danh-de-nhat-danh-tra-ky-1-lon-len-tu-ky-uc

