Xung lực cốt lõi cho nền sản xuất thông minh
Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đảng xác định là nền tảng vững chắc, động lực trung tâm của toàn bộ tiến trình phát triển đất nước.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định rõ yêu cầu đưa công nghệ và chuyển đổi số trở thành công cụ hiện đại hóa quản trị quốc gia, nâng cao năng suất, củng cố tự chủ chiến lược và kiến tạo giá trị gia tăng mới.
Trong tiến trình mang tính thời đại đó, ngành công thương với vai trò là huyết mạch sản xuất, năng lượng và lưu thông hàng hóa đang tiên phong chuyển mình, khẳng định sự cộng hưởng sức mạnh giữa các chủ thể trong toàn hệ sinh thái chính là chìa khóa mở ra không gian tăng trưởng mới.
Cấu trúc vận hành đa chủ thể
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bản chất là một quá trình tương tác phức hợp, liên ngành và đa chủ thể. Phân tích về cấu trúc vận hành này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Lâm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật chỉ rõ: Trong hệ thống đó, mỗi thực thể nắm giữ một sứ mệnh đặc thù, cấu thành sức mạnh tổng hợp của toàn bộ quốc gia.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra bước đột phá chiến lược, đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực then chốt thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại. (Ảnh: MAI HUYÊN)
Trước hết, Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, định hướng chiến lược dài hạn. Tư duy của Đảng liên tục hoàn thiện qua các kỳ Đại hội: Từ xác định khoa học-công nghệ là “quốc sách hàng đầu” tại Đại hội XII, đẩy mạnh ứng dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Đại hội XIII, đến bước đột phá căn bản với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Việt Nam đã định hình cụ thể 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia.
Song hành cùng định hướng của Đảng, Nhà nước chuyển mạnh sang mô hình kiến tạo phát triển, dẫn dắt bằng hành động thực tiễn. Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận nỗ lực lập pháp vượt bậc khi Quốc hội thông qua 28 dự án luật liên quan trực tiếp đến lĩnh vực này, củng cố vững chắc mô hình liên kết “bốn nhà” (nhà nước-nhà trường-nhà khoa học-nhà doanh nghiệp).
Đến cuối năm 2025, mạng 5G đã phủ sóng gần 59% dân số; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 36,8%. Năm 2024, chỉ số Chuyển đổi số quốc gia (DTI) đạt 0,7955 điểm (tăng 8,6%); chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) do Liên hợp quốc đánh giá đạt 0,7709 điểm, xếp thứ 71/193 quốc gia (tăng 15 bậc so năm 2022), đưa Việt Nam bước vào nhóm các quốc gia có mức phát triển “rất cao”.
Ở vị trí trung tâm, doanh nghiệp là địa bàn thử nghiệm và hiện thực hóa giá trị kinh tế của tri thức. Tính đến giữa năm 2025, cả nước có hơn 75.000 doanh nghiệp công nghệ số, gần 940 doanh nghiệp khoa học-công nghệ và khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Năm 2024, Việt Nam đứng thứ 44/133 quốc gia về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), được WIPO ghi nhận là một trong 8 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng bền bỉ nhất từ năm 2013 đến nay.
Năm 2025, hoạt động xác lập quyền sở hữu công nghiệp bùng nổ với 183.700 đơn đăng ký tiếp nhận (tăng 20,4%), xử lý 249.854 đơn (tăng 74,4%) và cấp 83.000 văn bằng bảo hộ (tăng 54,6%).

Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trực tiếp ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Cội nguồn tri thức xuất phát từ các viện nghiên cứu, trường đại học cùng đội ngũ trí thức. Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, Nhà giáo Ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đình Ngọ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Điện lực nhấn mạnh: "Nghiên cứu khoa học chỉ tạo giá trị thực chất khi gắn liền với thị trường và nâng cao hiệu quả vận hành của doanh nghiệp; việc đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng ngược trở lại giảng đường không chỉ giúp người học cọ xát với công nghệ mới, mà còn khẳng định năng lực làm chủ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật và giải pháp công nghệ của ngành điện lực Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Bám sát Nghị quyết 57, Trường đại học Điện lực đã tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và mô hình điều độ thông minh nhằm giải quyết thách thức cốt lõi về tích hợp năng lượng tái tạo, điện tử công suất và tối ưu hóa hệ thống điện".
Đặc biệt, người dân đóng vai trò trung tâm thụ hưởng và đồng sáng tạo. Cuối năm 2025, cả nước có 85,6 triệu người dùng Internet (84,2% dân số) và 79 triệu tài khoản mạng xã hội (77,6% dân số).

Nhà giáo Ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đình Ngọ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Điện lực: “Nghiên cứu khoa học chỉ tạo giá trị thực chất khi gắn liền với thị trường và nâng cao hiệu quả vận hành của doanh nghiệp”. (Ảnh tư liệu)
Nền tảng chia sẻ dữ liệu quốc gia năm 2025 đạt 1,2 tỷ lượt giao dịch; tỷ lệ dịch vụ công phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt 83,9%; cấp 57,45 triệu chứng thư chữ ký số (76,6% dân số trưởng thành).
Năm 2024 ghi nhận 17,7 tỷ giao dịch thanh toán không tiền mặt với tổng giá trị 295 triệu tỷ đồng (quét mã QR tăng 104%); quý I/2025 đạt hơn 5,5 tỷ giao dịch (kênh số chiếm 4,5 tỷ giao dịch, xấp xỉ 40 triệu tỷ đồng).
Hệ thống VNeID đến tháng 9/2025 xử lý hơn 2,1 tỷ giao dịch, kết nối gần 30 triệu lượt vào Cổng dịch vụ công quốc gia, 11 triệu lượt vào VssID và hơn hai triệu lượt vào eTax.
Tuy nhiên, bức tranh số chỉ thật sự bền vững khi giải quyết triệt để mặt trái an ninh thông tin. Năm 2024 xuất hiện gần 40.000 lỗ hổng bảo mật mới (47% ở mức nguy hiểm cao và nghiêm trọng); 10 Terabyte dữ liệu bị mã hóa tống tiền gây thiệt hại 11 triệu USD; 14,5 triệu tài khoản bị lộ lọt, cùng hơn 4.000 tên miền lừa đảo và 1.200 website giả mạo; bảo đảm an toàn dữ liệu là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin số của xã hội.

Chuyển đổi số lan tỏa sâu rộng vào đời sống thường nhật, đưa người dân trở thành chủ thể thụ hưởng tiện ích số và đồng sáng tạo các giá trị phát triển mới. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Tháo gỡ điểm nghẽn bằng các quyết sách căn cơ
Nhìn thẳng vào thực tế, liên kết “bốn nhà” ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; khối doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rào cản lớn về vốn và công nghệ; cơ chế tài chính chưa thông thoáng và nhân lực số chất lượng cao còn thiếu hụt.
Để hóa giải các điểm nghẽn này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Lâm nêu rõ bốn yêu cầu: Dứt khoát từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô hay lao động giá rẻ, lấy năng suất và hàm lượng đổi mới sáng tạo làm thước đo; Xóa bỏ tư duy cục bộ, liên thông hạ tầng dữ liệu từ Trung ương đến địa phương; Lấy con người làm trung tâm, doanh nghiệp làm nền tảng, chấp nhận độ trễ và rủi ro hợp lý trong nghiên cứu khoa học; Kết hợp hữu cơ khoa học-công nghệ với chuyển đổi số để tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị quốc gia và quy trình sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở đó, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai quyết liệt. Trọng tâm hàng đầu là cụ thể hóa đường lối Đại hội XIV và Nghị quyết 57-NQ/TW thành các mục tiêu định lượng, gắn trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị với kết quả chuyển đổi số.
Về phía thể chế, Nhà nước cần khẩn trương ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), áp dụng chính sách ưu đãi thuế, khấu trừ tối đa chi phí nghiên cứu và phát triển và mở kho dữ liệu công.
Đi sâu vào giải pháp tạo đòn bẩy thị trường, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công phân tích: "Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đặt hàng bài toán chiến lược và tạo thị trường cho giải pháp mới; mua sắm công cần được sử dụng như công cụ thúc đẩy công nghệ, cho phép thí điểm sản phẩm, dịch vụ chưa có tiền lệ nhưng có khả năng tạo giá trị công; đồng thời cần phát triển nền tảng thử nghiệm, phòng thí nghiệm chính sách và trung tâm đổi mới mở để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, viện-trường và người dân cùng thiết kế, đánh giá giải pháp".
Cùng quan điểm hoàn thiện hành lang vận hành, Tiến sĩ Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công nhấn mạnh: Cơ chế sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích và thương mại hóa kết quả nghiên cứu phải rõ ràng; dữ liệu công, hạ tầng tính toán và nguồn lực tài chính cần được tiếp cận theo cơ chế minh bạch, cạnh tranh, ưu tiên nhiệm vụ có khả năng lan tỏa.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động trích lập nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, vươn lên làm chủ công nghệ lõi và đẩy mạnh sản xuất thông minh. Hệ thống viện-trường phải lấy khả năng thương mại hóa thực tiễn làm thước đo cao nhất để nghiệm thu đề tài; đổi mới căn bản chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, đẩy mạnh giáo dục STEM và đào tạo lại kỹ năng số chuyên sâu.
Song song đó, công tác xây dựng xã hội số phải gắn với phổ cập kỹ năng số đến vùng sâu, vùng xa, kiên quyết siết chặt an ninh mạng. Toàn bộ hệ thống cần vận hành theo chuỗi liên hoàn “định hướng-nguồn lực-nhiệm vụ-sản phẩm-tác động”, hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo theo vùng kinh tế gắn với chủ động hợp tác quốc tế.
Dấu ấn hành động từ ngành công thương
Trong bức tranh chung của nền kinh tế, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là hai mắt xích không thể tách rời. Trình bày chuyên đề “Chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh và sản xuất thông minh tại Việt Nam đến năm 2030”, bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công thương) cho biết: Thời gian qua, ngành công thương đã triển khai nhiều chương trình về bảo vệ môi trường, sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn nhưng còn phân tán, thiếu liên kết.
Trên tinh thần Nghị quyết 57, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 2708/QĐ-BCT năm 2025 về Chương trình thúc đẩy sản xuất thông minh và chuyển đổi số trong các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và thương mại, coi sản xuất thông minh là công cụ gắn kết chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Công nhân điện lực vận hành lưới điện thông minh, số hóa công-tơ điện và quản lý vận hành từ xa phục vụ người dân, doanh nghiệp. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua việc xây dựng chính sách, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, kết nối hệ sinh thái và hỗ trợ theo nhu cầu thực tế cũng như mức độ trưởng thành số của từng đơn vị.
Chương trình được triển khai theo hai giai đoạn rõ ràng:
Đến năm 2030, tập trung xây dựng nền tảng sản xuất thông minh thông qua đào tạo doanh nghiệp, chuẩn hóa chuyên gia tư vấn, xây dựng bộ chỉ số, tiêu chuẩn, quy chuẩn và kiến trúc tham chiếu.
Đến năm 2035, tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao mức độ ứng dụng trong toàn ngành.
Bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm:
Hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và kiến trúc cho sản xuất thông minh.
Phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số trong doanh nghiệp.
Xây dựng hệ sinh thái, tăng cường hợp tác quốc tế kết nối viện-trường-doanh nghiệp.
Phát triển công nghệ, hạ tầng và kết nối dữ liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một bản hòa ca đòi hỏi sự nhịp nhàng giữa mọi chủ thể: Đảng lãnh đạo sáng suốt, Nhà nước kiến tạo hiệu quả, doanh nghiệp dấn thân tiên phong, viện-trường dẫn dắt tri thức và người dân đồng lòng tham gia.
Khi sức mạnh ấy được hợp lực và ngành công thương thực hiện thắng lợi các mục tiêu sản xuất thông minh, đất nước sẽ tạo lập nên xung lực bứt phá mạnh mẽ, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/xung-luc-cot-loi-cho-nen-san-xuat-thong-minh-post984557.html
