Y phục nghi lễ

VHXQ - Trong dòng chảy văn hóa xứ Quảng, hôn nhân (hỷ sự) và tang ma (ai sự) là những nghi lễ đánh dấu các bước chuyển giao quan trọng của đời người. Không đơn thuần là những nghi thức trong nếp nhà, đây còn là không gian văn hóa nơi gia phong, lễ nghĩa và đạo hiếu được biểu đạt qua hành vi, vật dụng và trang phục.

Đô thị thương cảng cổ Hội An đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu

Đô thị thương cảng cổ Hội An đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu

Nếu y phục thường nhật đề cao sự giản dị, tiện dụng để thích ứng với đời sống và khí hậu miền Trung, thì trong những thời khắc trọng đại, trang phục lại trở nên nghiêm cẩn, chừng mực và giàu tính biểu tượng.

Chuẩn mực tà áo ngũ thân trong ngày kết duyên

Từ những cải cách về y phục dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong vào thế kỷ 18, áo ngũ thân trở thành một dạng thức quan trọng của trang phục truyền thống Việt Nam, đặc biệt trong những không gian đòi hỏi sự trang trọng, khuôn phép. Vùng đất gắn với thương cảng Hội An và nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa bên dòng Thu Bồn, trang phục cưới truyền thống chịu ảnh hưởng rõ nét của văn hóa mặc Đàng Trong, đề cao vẻ đoan chính, trang nghiêm trước bàn thờ gia tiên.

Trong lễ phục tân lang, tân nương, áo tấc với năm thân, cổ đứng và tay thụng tạo nên vẻ nền nã, kín đáo mà uy nghiêm. Cấu trúc áo cũng được người đời sau gắn với nhiều cách lý giải biểu tượng: bốn thân ngoài thường liên hệ với tứ thân phụ mẫu, thân áo thứ năm được diễn giải như hình ảnh người con được gia đình, dòng họ chở che. Năm chiếc khuy cũng thường được gắn với Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín như những chuẩn mực đạo lý trong đời sống.

Không chỉ đôi trẻ, các bậc trưởng thượng và người đại diện hai họ cũng diện áo ngũ thân, áo tấc bằng the đen hoặc lam sẫm, đội khăn đóng chỉnh tề trong những nghi thức trước bàn thờ gia tiên. Trang phục vì thế không chỉ tạo nên vẻ trang nghiêm mà còn biểu đạt vị thế, thứ bậc và gia phong.

Cái thực tế mà trọng tình của người Quảng còn được gửi gắm qua những phong tục tưởng nhỏ mà giàu ý nghĩa. Bên cạnh trầu cau, trà rượu hay “tiền heo” trong lễ nạp tài, ở một số địa phương còn có khoản gọi là “tiền giẻ”, dành để cô dâu may sắm áo quần mới khi về nhà chồng. Một khoản tiền giản dị nhưng cho thấy sự chu đáo của nhà trai và sự coi trọng người phụ nữ trong bước ngoặt của đời sống gia đình.

Không gian trưng bày lễ phục cưới truyền thống xứ Quảng tại Bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: Công Phương

Không gian trưng bày lễ phục cưới truyền thống xứ Quảng tại Bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: Công Phương

Tang phục và đạo hiếu

Nếu lễ phục mở ra một chặng đời mới của đôi trẻ, thì tang phục lại biểu đạt đạo hiếu và sự tiếc thương trước mất mát. Tang phục truyền thống ở xứ Quảng chịu ảnh hưởng của lễ chế Nho giáo, đồng thời được cộng đồng tiếp biến trong đời sống dân gian. Theo hệ thống Ngũ phục được ghi nhận trong Thọ Mai gia lễ, tang chế được phân định qua năm bậc: Trảm thôi, Tề thôi, Đại công, Tiểu công và Ty ma.

Ở bậc đại tang dành cho cha mẹ, những chất liệu mộc mạc như vải xô, dây chuối, rơm… tạo nên diện mạo giản dị, tiết chế, đối lập với sự trang trọng của lễ phục cưới. Theo lệ truyền thống, tang cha dùng áo Trảm thôi với gấu áo để sổ; tang mẹ dùng áo Tề thôi với gấu áo chỉnh tề. Khăn xô và các dải khăn phía sau cũng có những quy định khác nhau tùy quan hệ và hoàn cảnh tang chế, qua đó thể hiện thứ bậc thân thuộc và mức độ chịu tang.

Cây gậy tang vừa là điểm tựa cho người chịu tang, vừa mang ý nghĩa biểu tượng trong quan niệm truyền thống: tang cha dùng gậy tre, tang mẹ dùng gậy vông. Những quy thức tưởng như giản dị ấy biến tang phục thành một “ngôn ngữ” không lời, nơi quan hệ thân thuộc và lòng hiếu kính được biểu đạt qua từng chi tiết.

Đánh thức ký ức qua từng tà áo

Những nét đẹp truyền thống không chỉ được lưu giữ trong ký ức, mà còn được kể lại qua những hiện vật trang phục đang được bảo tồn tại Bảo tàng Đà Nẵng. Trong không gian trưng bày lễ phục cưới, chiếc áo tấc của chú rể bằng gấm xanh sẫm, họa tiết hoa tròn cổ điển, đi cùng khăn đóng; bên cạnh là bộ trang phục cô dâu với áo khoác ngoài bằng gấm hoa màu hồng cánh sen, viền chỉ vàng và khăn đóng được quấn theo lối truyền thống. Những hiện vật giúp người xem hình dung diện mạo lễ phục và những chuẩn mực thẩm mỹ của người xưa.

Từ nếp áo, sắc gấm đến dải khăn, mỗi hiện vật không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là một chứng nhân của đời sống văn hóa. Qua đó, bảo tàng trở thành cầu nối để thế hệ hôm nay nhận diện những giá trị từng được gửi gắm trong nghi lễ và trang phục: sự chừng mực, lòng hiếu kính, tình nghĩa gia đình và ý thức về cội nguồn.

Tìm hiểu về y phục nghi lễ xứ Quảng vì thế không chỉ để biết người xưa mặc gì trong ngày cưới hay tang lễ, mà còn là cách đọc lại một hệ giá trị văn hóa. Giữa những đổi thay của đời sống đương đại, việc nhận diện và bảo tồn tà áo ngũ thân, áo tấc, khăn đóng hay tang phục truyền thống chính là góp phần lưu giữ ký ức cộng đồng, để những giá trị của chữ Lễ, chữ Hiếu và nền nếp gia phong tiếp tục được nhận biết trong đời sống hôm nay.

HÀ SƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/y-phuc-nghi-le-3357295.html