10 bài toán lớn của ngành xuất bản
Chỉ thị 04 xác định xuất bản là hạ tầng tri thức quốc gia. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần giải quyết 10 bài toán lớn từ khâu nhân lực, bản quyền đến xuất khẩu tri thức.

Ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch HĐQT Alpha Books, cho rằng ngành xuất bản Việt Nam cần giải quyết 10 bài toán lớn nếu muốn hoàn thành mục tiêu Chỉ thị 04 đặt ra.
Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư đã đặt hoạt động xuất bản vào vị trí quan trọng. Theo đó, xuất bản vừa là công cụ tư tưởng, văn hóa, vừa là một ngành kinh tế - công nghệ, đồng thời là phương tiện để xây dựng văn hóa đọc, xã hội học tập.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ dừng ở việc quán triệt tinh thần chung mà không chuyển hóa thành các cơ chế, bài toán cụ thể thì rất dễ rơi vào tình trạng chủ trương đúng nhưng triển khai phân tán, có quyết tâm chính trị nhưng thiếu công cụ thực hiện thực chất.
Để Chỉ thị 04 không chỉ tạo ra sự thay đổi trên văn bản mà thực sự làm thay đổi thị trường, nhà trường, thư viện và doanh nghiệp, chúng ta cần xem xuất bản là hạ tầng tri thức quốc gia, chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái, đồng thời huy động mạnh mẽ mô hình hợp tác công - tư (PPP).
Dưới góc nhìn của một người gắn bó với ngành, tôi xin đề xuất 10 bài toán lớn cấp ngành cần được tập trung giải quyết trong thời gian tới. Mỗi bài toán này cần có đơn vị đầu mối, KPI, thời hạn và cơ chế thí điểm rõ ràng.
Bài toán 1. Xuất khẩu 1.000 đầu sách Việt Nam ra thế giới
Mục tiêu của bài toán là tạo ra một chương trình quốc gia dài hạn nhằm đưa tri thức, lịch sử, văn hóa, văn học và tư tưởng Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế. Đề bài đặt ra là làm thế nào để trong vòng 5-10 năm tới, nước ta có được một danh mục sách quốc gia được dịch thuật, phát hành, quảng bá và hiện diện một cách bền vững trên trường quốc tế.
Về cách làm, cần thiết lập một hội đồng để lựa chọn danh mục sách, sau đó chia thành nhiều gói thầu đa dạng như dịch thuật, hiệu đính quốc tế, thiết kế đóng gói sản phẩm, phát hành, truyền thông và bán bản quyền, từ đó chọn ra các doanh nghiệp, nhóm dịch giả hay đơn vị quốc tế tham gia theo hình thức đấu thầu hoặc tuyển chọn cạnh tranh.
Lộ trình triển khai sẽ được chia thành ba giai đoạn cụ thể: bắt đầu bằng việc chọn 100 đầu sách nền tảng ở giai đoạn 1, mở rộng quy mô lên 300 đến 500 đầu sách ở giai đoạn 2 thông qua việc phân chia các gói đấu thầu, và cuối cùng tiến tới mục tiêu xuất khẩu 1.000 đầu sách ở giai đoạn 3.
Bài toán 2. Vận hành/nâng cấp 1.000 thư viện và điểm đọc sống
Bài toán thứ hai có mục tiêu cốt lõi là biến các thư viện từ những thiết chế tĩnh trở thành các không gian học tập, sinh hoạt văn hóa và phát triển cộng đồng sinh động. Đề bài cần giải quyết là làm sao để các hệ thống thư viện tỉnh, thư viện trường học và điểm đọc tại xã, phường có thể hoạt động một cách thực chất, thu hút đông đảo người đọc và đem lại hiệu quả xã hội có thể đo lường được.
Cách làm hiệu quả nhất là cho phép áp dụng mô hình hợp tác công - tư (PPP) và tổ chức đấu thầu vận hành, đồng thời chuẩn hóa mô hình thư viện sống từ không gian, danh mục sách, chương trình hoạt động đến hệ thống dữ liệu người dùng, để xây dựng hệ thống đánh giá theo kết quả đầu ra thực tế thay vì chỉ nhìn vào cơ sở vật chất đơn thuần.
Việc triển khai nên bắt đầu bằng việc chọn một số tỉnh và quận làm điểm thí điểm, sau đó lựa chọn các doanh nghiệp, liên minh hoặc tổ chức có đủ năng lực đứng ra vận hành, và tiến hành nhân rộng mô hình sau 12 đến 18 tháng đánh giá hiệu quả.
Bài toán 3. Đưa đọc sách thành một phần chính thức của giáo dục phổ thông
Bài toán thứ ba mang theo mục tiêu quan trọng là hình thành năng lực đọc, thói quen đọc và năng lực tự học cho học sinh các cấp. Đề bài đặt ra yêu cầu hoạt động đọc trong môi trường nhà trường không được dừng lại ở mức độ phong trào, mà phải thực sự trở thành một thiết chế giáo dục có nội dung cụ thể, phương pháp rõ ràng và đội ngũ thực hiện bài bản.
Về cách thức thực hiện, ngành giáo dục cần xây dựng chương trình tiết đọc sách hoặc giờ đọc sách phù hợp theo từng cấp học, đi liền với việc phát triển hệ thống thư viện lớp học, trường học và tổ chức đào tạo chuyên môn cho giáo viên phụ trách. Trong quá trình triển khai, cần cho phép đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác với các doanh nghiệp, quỹ hoặc liên minh ngành để thí điểm tại một số địa phương và cụm trường, đồng thời xây dựng bộ tài liệu chuẩn cùng bộ công cụ đo lường để đánh giá chính xác dựa trên kỹ năng, hành vi và tần suất đọc của học sinh.

Cần phát triển các không gian văn hóa đọc như không gian học tập, sinh hoạt văn hóa và phát triển cộng đồng sinh động. Ảnh: Phương Lâm.
Bài toán 4. Cải cách cơ chế biên soạn và xuất bản sách giáo khoa
Bài toán thứ tư hướng tới nâng cao chất lượng, giảm bớt áp lực độc quyền và gia tăng tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Để giải quyết điểm nhạy cảm này, đề bài yêu cầu phải tìm ra phương án nhằm phát huy tối đa vai trò điều phối của Nhà nước, nhưng song song đó vẫn mở rộng được năng lực của toàn xã hội tham gia vào khâu biên soạn và xuất bản sách giáo khoa.
Cách làm được đề xuất là xem xét áp dụng cơ chế đấu thầu hoặc tuyển chọn chi tiết theo từng môn học, từng cấp học hoặc từng bộ phận nội dung trong sách. Theo đó, Nhà nước sẽ nắm giữ vai trò quy định chuẩn đầu ra, xây dựng khung chương trình và thành lập hội đồng thẩm định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và đơn vị chuyên môn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nhằm giảm gánh nặng chỉ tập trung vào một chủ thể duy nhất.
Bài toán 5. Hình thành quỹ tài trợ tác phẩm lớn quốc gia
Bài toán này nhằm nuôi dưỡng các công trình đồ sộ, mang giá trị lâu dài trên các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, học thuật, khoa học và di sản. Đề bài cần xử lý là làm thế nào để Việt Nam có thể làm ra nhiều bộ sách lớn, những công trình có nền tảng tri thức sâu sắc thay vì chỉ dựa vào sức lực đơn lẻ và hạn hẹp của từng nhà xuất bản hay từng tác giả.
Cách làm thiết thực nhất là tiến hành lập quỹ hỗ trợ với cơ chế tuyển chọn hoàn toàn công khai, minh bạch, tiến hành cung cấp nguồn tài trợ dài hơi theo chu kỳ nhiều năm. Quá trình này bắt buộc phải có sự tham gia của một hội đồng khoa học độc lập để giám sát, đánh giá chuyên môn và xây dựng một cơ chế nghiệm thu chặt chẽ.
Bài toán 6. Xây dựng đô thị sách, không gian sách, tuyến phố tri thức
Mục tiêu của bài toán này là kiến tạo những điểm đến văn hóa đọc gắn liền mật thiết với đời sống đô thị, hoạt động du lịch và môi trường học tập cộng đồng. Đề bài đặt ra thách thức cho các địa phương trong việc xây dựng những không gian sách thực sự sống động, không chỉ tồn tại ở dạng biểu tượng mà phải là nơi vận hành văn hóa đọc thường xuyên.
Cách giải quyết là ưu tiên phát triển đa dạng các mô hình như phố sách, công viên sách, khu đọc mở hay các tổ hợp tích hợp sách, cà phê và triển lãm, kết hợp lồng ghép vào quy hoạch văn hóa đô thị và vận dụng mô hình hợp tác công - tư trong vận hành. Việc triển khai sẽ bắt đầu từ việc lựa chọn một số đô thị lớn cùng các địa phương có tiềm năng phù hợp, sau đó mạnh dạn giao quyền quản lý và vận hành cho các liên danh công - tư hoặc các doanh nghiệp có đủ năng lực.
Bài toán 7. Xây dựng trục hạ tầng tri thức quốc gia
Bài toán thứ bảy mang mục tiêu vĩ mô là tạo lập một hệ thống dữ liệu toàn diện, các thư viện số và nền tảng truy cập tri thức chung để phục vụ người dân. Đề bài là làm sao để Việt Nam có thể sở hữu một hệ thống hạ tầng số vững chắc, có khả năng kết nối đồng bộ từ hoạt động xuất bản, hệ thống thư viện, nguồn học liệu, dữ liệu sách cho đến việc phân tích hành vi đọc của xã hội.
Cách thức thực hiện bao gồm việc xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia dành riêng cho mảng xuất bản phẩm, phát triển các nền tảng thư viện số liên thông với nhau và tiến hành chuẩn hóa toàn bộ siêu dữ liệu (metadata). Để triển khai một cách thực chất, Nhà nước cần tạo cơ chế đặt hàng công để cho phép các doanh nghiệp công nghệ trong nước tham gia trực tiếp vào việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật.

Ông Nguyễn Cảnh Bình đề xuất xây dựng đô thị sách, không gian sách, tuyến phố tri thức. Ảnh: Phương Lâm.
Bài toán 8. Chống in lậu, phát hành lậu và xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền
Bài toán thứ tám nhắm vào mục tiêu làm sạch môi trường phát hành, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sáng tạo, người làm sách và vun đắp một thị trường kinh doanh thật sự lành mạnh. Đề bài đặt ra yêu cầu phải tìm giải pháp khả thi để giảm mạnh tình trạng in lậu, phát hành lậu, ngăn chặn tận gốc hành vi sao chép trái phép và thay đổi tâm lý coi nhẹ bản quyền.
Về cách làm, cần có sự phối hợp đồng bộ thông qua việc tăng cường các chế tài xử phạt đủ sức răn đe, tổ chức các chiến dịch truyền thông quy mô quốc gia, và đặc biệt là hình thành một liên minh hành động giữa các cơ quan quản lý, nhà xuất bản, công ty sách cùng các nền tảng số. Cùng với đó, ngành cần tích cực ứng dụng các công nghệ hiện đại tiên tiến nhất để phục vụ công tác truy vết vi phạm và xác thực nguồn gốc sách trên thị trường.
Bài toán 9. Hình thành liên minh phát triển văn hóa đọc và xuất bản Việt Nam
Bài toán thứ chín hướng tới tạo ra một lực lượng phối hợp thống nhất của toàn ngành để chung tay đạt được các mục tiêu quốc gia. Đề bài đưa ra thách thức trong việc kết nối các đơn vị xuất bản và phát hành lớn hành động chung trong các vấn đề cốt lõi như tổ chức hội sách, bảo vệ bản quyền, phát triển thư viện và thúc đẩy phong trào đọc sách, thay vì chỉ duy trì tình trạng cạnh tranh đơn lẻ.
Cách thực hiện hiệu quả là thành lập một liên minh dựa trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, được dẫn dắt bởi một bản tuyên ngôn chung và hoạt động dưới sự điều phối của một ban đại diện thống nhất. Liên minh này sẽ dồn nguồn lực để triển khai các chương trình mục tiêu có tầm nhìn lớn như tổ chức 100 hội sách chất lượng, vận hành 1.000 điểm đọc sống động và kiến tạo nên một cộng đồng gồm 1 triệu độc giả duy trì thói quen học tập suốt đời.
Bài toán 10. Đào tạo 10.000 nhân sự chất lượng cao cho ngành xuất bản và văn hóa đọc
Bài toán thứ mười là điểm nghẽn có ý nghĩa quyết định, mục tiêu cốt lõi là tạo ra đủ nguồn lực vững chắc để vận hành toàn bộ guồng máy ngành trong giai đoạn chuyển đổi mới. Đề bài đặt ra áp lực đòi hỏi trong vòng 10 năm tới, ngành xuất bản Việt Nam phải trang bị đủ lực lượng biên tập viên giỏi, dịch giả xuất sắc, chuyên gia về bản quyền, nhà quản trị thư viện hiện đại, chuyên gia xuất bản số và những nhà tổ chức văn hóa đọc.
Về cách làm, cần lập tức triển khai một chương trình đào tạo ở quy mô quốc gia, tiến hành tạo sự liên kết chặt chẽ và sâu rộng giữa các cơ sở đào tạo trường học, hệ thống viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Việc triển khai thực tiễn cần bao gồm việc phân bổ học bổng, đặt hàng đào tạo nhân sự theo sát nhu cầu, tổ chức các khóa học tại chỗ và thiết lập hệ thống cấp chứng nhận năng lực nghề nghiệp.
Cơ chế triển khai để hiện thực hóa
Để 10 bài toán này không nằm lại trên giấy như những khẩu hiệu, tôi kiến nghị thành lập một Ban điều phối triển khai Chỉ thị 04 mang tính liên ngành gồm Bộ Văn hóa, Cục Xuất bản, Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và đại diện doanh nghiệp, chuyên gia.
Quá trình thực hiện không nên làm ồ ạt ngay từ đầu mà cần tuân thủ phương thức “thí điểm - đánh giá - nhân rộng” tại một vài địa phương, dự án cụ thể. Đặc biệt, đối với các mảng dịch vụ công như dịch thuật, vận hành điểm đọc, tổ chức hội sách hay số hóa, cần mạnh dạn chuyển sang cơ chế đặt hàng và đấu thầu công khai có tiêu chuẩn rõ ràng.
Chỉ thị số 04-CT/TW đã mở ra một vận hội lớn để tái định vị ngành xuất bản. Việc từng bước hiện thực hóa những bài toán trên chính là cách tốt nhất để đưa Chỉ thị đi vào đời sống một cách sâu sắc, thực chất và kiến tạo thành công hệ sinh thái tri thức quốc gia.
Nguồn Znews: https://znews.vn/10-bai-toan-lon-cua-nganh-xuat-ban-post1640445.html











