'100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số': Kỳ 1 - Những 'điểm trắng' tiếp cận dịch vụ công
Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ công, thông tin, việc làm và phát triển kinh tế. Nhưng thực tế vẫn còn phụ nữ, nhất là người cao tuổi, phụ nữ nông thôn, vùng miền núi, dân tộc thiểu số, gặp khó khăn khi sử dụng các dịch vụ số.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đã kết luận yêu cầu triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số, nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện Nghị quyết 57 và đưa chuyển đổi số đi vào thực chất.
Cụ thể hóa chỉ đạo trên, ngày 11/7/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW, xác định 50 nhiệm vụ trọng tâm, tập trung xử lý dứt điểm 10 nhóm "điểm nghẽn" về chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Kế hoạch được triển khai trong 100 ngày làm việc, từ ngày 10/7 đến hết ngày 30/11/2026, bao trùm bốn khối cơ quan: Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc.
Điểm đáng chú ý, mỗi nhiệm vụ trong Kế hoạch không chỉ dừng ở yêu cầu hoàn thành đúng tiến độ, mà phải tạo ra sản phẩm có thể vận hành thực tế, có dữ liệu, có người sử dụng và có kết quả kiểm chứng được. Về cơ chế giám sát, Ban Chỉ đạo Trung ương nhấn mạnh việc đánh giá sẽ dựa trên sản phẩm thực tế, dữ liệu vận hành và trải nghiệm người dùng, ưu tiên hình thức kiểm tra trực tiếp, đánh giá độc lập và khảo sát ngẫu nhiên thay vì chỉ dựa trên báo cáo hành chính.

Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số. Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ
Bước qua "cánh cửa số"
Theo kết quả của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) về mức sống dân cư năm 2025, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại di động trên cả nước năm 2025 đạt 87,3%, tăng 2,5 điểm phần trăm so với năm 2024 (84,8%), trong đó 80,3% dân số sử dụng điện thoại thông minh, tỷ lệ sử dụng điện thoại thường chỉ còn 8,5%.
Số liệu khảo sát cho thấy điện thoại di động nói chung và điện thoại di động thông minh đã trở thành phương tiện thiết yếu tại Việt Nam nên không còn chênh lệch nhiều về tỷ lệ sử dụng điện thoại di động theo các nhóm dân số, địa lý.
Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ gia đình sở hữu máy tính đạt 27,4%. 93,3% hộ gia đình tại Việt Nam có kết nối internet và 87,1% dân số có sử dụng internet, tăng lần lượt là 0,8 điểm phần trăm và 2,9 điểm phần trăm so với năm 2024 (92,5% và 84,2%).
Tỷ lệ người dân tham gia mạng xã hội cũng tăng từ 76,5% năm 2024 lên 80,3% năm 2025. Điều này cho thấy intenet và mạng xã hội ngày càng trở thành hạ tầng thiết yếu phục vụ thông tin, giao tiếp, giải trí và tương tác của người dân. Kết quả khảo sát cũng chỉ ra kỹ năng công nghệ thông tin của người dân chủ yếu vẫn dừng lại ở các kỹ năng cơ bản, tỷ lệ người dân đạt đến kỹ năng nâng cao chỉ chiếm 21,5%.
Đố với dịch vụ công, chuyển đổi số đang mở ra một nền hành chính hiện đại, nơi người dân có thể ngồi tại nhà thực hiện hàng loạt thủ tục chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại thông minh.

Thông tin về tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin dịch vụ quốc gia.
Thế nhưng, phía sau những con số ấn tượng về tỷ lệ hồ sơ trực tuyến và mức độ phủ sóng internet vẫn còn những "điểm trắng" ít được nhắc đến. Đó là những phụ nữ nông thôn, người cao tuổi, phụ nữ dân tộc thiểu số, người khuyết tật... đang loay hoay trước màn hình điện thoại, hoặc buộc phải nhờ người khác làm thay những thủ tục vốn gắn liền với quyền lợi của chính mình.
Ở độ tuổi ngoài 60, với bà Nguyễn Thị Thúy (phường Thành Nam, tỉnh Ninh Bình), chiếc điện thoại thông minh không phải là vật xa lạ. Hằng ngày, bà vẫn xem tin tức, gọi video cho con cháu, xem các chương trình giải trí. Thế nhưng, khi phải đăng nhập tài khoản định danh điện tử, xác thực khuôn mặt, tra cứu thông tin an sinh, hồ sơ sức khỏe…, mọi thao tác bỗng trở nên quá phức tạp với bà. "Dù đã được con cháu giải thích, hướng dẫn nhiều lần, nhưng tôi vẫn chật vật ngay từ lúc đăng nhập vào ứng dụng. Chỉ riêng việc ghi nhớ tên đăng nhập, mật khẩu hay mã OTP đã là thách thức với người lớn tuổi. Khi điện thoại báo lỗi, ứng dụng yêu cầu cập nhật phiên bản mới hoặc giao diện thay đổi, tôi thường chọn bỏ cuộc giữa chừng vì sợ thao tác sai sẽ mất dữ liệu hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân", bà Thúy chia sẻ.
Tại tỉnh Phú Thọ, những người phụ nữ dân tộc thiểu số như chị Bùi Thị Duyên lại khá loay hoay với cách sử dụng ứng dụng VNeID hay nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Chị Duyên cho biết: "Các biểu mẫu điện tử, hướng dẫn kê khai, quy trình xác thực... thường được thiết kế theo ngôn ngữ hành chính thống nhất. Trong khi đó, chị em phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa như chúng tôi, việc đọc và hiểu đầy đủ các yêu cầu này không hề đơn giản". Vì lẽ đó, rào cản ngôn ngữ là một trong những trở ngại lớn nhất đối với người dân tộc thiểu số khi tiếp cận thông tin chính thống và các trang dịch vụ công trực tuyến. Khi không hiểu hướng dẫn, người dân dễ khai sai thông tin, bỏ sót giấy tờ hoặc từ bỏ việc thực hiện thủ tục trên môi trường số.
Không chỉ ở vùng sâu, vùng xa hay các tỉnh, ngay tại thành phố lớn như Hà Nội, chị Trần Vân Anh (23 tuổi) (phường Ngọc Hà, Hà Nội) tâm sự, mặc dù có kiến thức về công nghệ thông tin nhưng chị vẫn khá lúng túng khi thực hiện các bước nộp hồ sơ trực tuyến để đăng ký cho chiếc xe máy vừa dành dụm tiền mua được. Với chị Vân Anh, rào cản không chỉ nằm ở kỹ năng sử dụng điện thoại mà còn ở cách liên thông dữ liệu giữa các hệ thống.

Nhiều phụ nữ còn gặp khó khăn khi thực hiện các dịch vụ công trực tuyến
Những câu chuyện như vậy đang diễn ra ở không ít địa phương. Trong khi Chính phủ đang quyết liệt thúc đẩy xây dựng nền hành chính số, phát triển dịch vụ công trực tuyến toàn trình và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, thì thực tế cho thấy không phải mọi công dân đều có khả năng bước qua "cánh cửa số" ấy bằng chính đôi chân của mình. Có người thiếu thiết bị, có người thiếu kỹ năng, có người thiếu kết nối internet ổn định, có người đơn giản chỉ thiếu một người hướng dẫn. Đó là những hạn chế ngăn cách người dân tiếp cận những quyền lợi thiết yếu như đăng ký khai sinh, cấp đổi giấy tờ, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội hay các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Ở góc độ nào đó, đây chính là một nghịch lý của chuyển đổi số. Hạ tầng công nghệ ngày càng hoàn thiện, nhưng năng lực sử dụng của một bộ phận người dân vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng.
Những người có nguy cơ "bên lề" môi trường số
Để nhận diện rõ hơn những "điểm nghẽn" trong quá trình phụ nữ tiếp cận chuyển đổi số, Báo Phụ nữ Việt Nam đã thực hiện khảo sát đối với đại diện Hội LHPN tại một số địa phương, tập trung vào 2 nội dung: những nhóm phụ nữ gặp khó khăn nhất khi tham gia môi trường số và những rào cản khiến họ chưa thể tiếp cận hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến.
Kết quả khảo sát cho thấy, khoảng cách số đối với phụ nữ hiện nay không chỉ nằm ở câu chuyện có hay không có thiết bị kết nối, mà là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: Kỹ năng số, tuổi tác, điều kiện kinh tế, hạ tầng, tâm lý và cả mức độ thân thiện của các nền tảng dịch vụ công.
Phụ nữ cao tuổi, trung niên là nhóm được nhắc đến nhiều nhất. Theo bà Hoàng Thị Minh Thảo, Phó Chủ tịch UB MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội LHPN xã Thu Cúc, tỉnh Phú Thọ, nhóm hội viên trung niên, cao tuổi gặp nhiều khó khăn do hạn chế về trình độ, tuổi tác, sức khỏe và khả năng tiếp cận công nghệ; nhiều người chủ yếu sử dụng điện thoại cho việc nghe, gọi.
Tại các địa phương khác, nhóm phụ nữ gặp khó còn được mở rộng tới phụ nữ nông thôn, phụ nữ vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ thuộc hộ nghèo, cận nghèo, phụ nữ khuyết tật và những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là những nhóm thường đồng thời gặp nhiều hạn chế về kỹ năng sử dụng thiết bị, điều kiện kinh tế và cơ hội tiếp cận công nghệ.

Phụ nữ cao tuổi, phụ nữ miền núi là những nhóm thường gặp hạn chế trong tiếp cận kỹ năng số
Khảo sát cũng cho thấy thiếu kỹ năng số đang nổi lên như một rào cản phổ biến nhất. Nhiều phụ nữ đã có điện thoại thông minh nhưng việc sử dụng vẫn chủ yếu dừng ở nghe gọi, nhắn tin hoặc mạng xã hội. Khi chuyển sang những thao tác đòi hỏi kỹ năng cao hơn như đăng nhập VNeID, sử dụng tài khoản định danh điện tử, thanh toán trực tuyến hoặc nộp hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công, không ít người vẫn lúng túng.
Một điểm đáng chú ý từ khảo sát là tâm lý e ngại công nghệ xuất hiện ở nhiều nhóm phụ nữ. Sợ thao tác sai, sợ mất thông tin cá nhân, lo bị lừa đảo hoặc mất tiền khi giao dịch trực tuyến khiến một bộ phận hội viên dù có đủ thiết bị vẫn lựa chọn cách làm truyền thống: Đến trực tiếp cơ quan hành chính hoặc nhờ người khác thực hiện.
Bà Phạm Thị Hà, Phó Chủ tịch UB MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội LHPN xã Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ nhận định, "điểm nghẽn" lớn không hẳn là thiếu công nghệ mà là thiếu kỹ năng số và sự tự tin khi sử dụng công nghệ. Bên cạnh đó, một số dịch vụ công trực tuyến vẫn có nhiều bước thao tác, thuật ngữ chuyên môn khó hiểu; điều kiện thiết bị, đường truyền Internet và việc thiếu người hướng dẫn trực tiếp cũng tạo thêm rào cản.
Ở xã Thung Nai, tỉnh Phú Thọ, khảo sát chỉ ra một yếu tố khác: Thói quen và tâm lý phụ thuộc. Một số phụ nữ cho rằng bản thân chưa thực sự cần thực hiện thủ tục trực tuyến; khi có việc có thể nhờ người thân hoặc người thành thạo công nghệ làm thay. Chính sự phụ thuộc này khiến kỹ năng số không được hình thành và khoảng cách số tiếp tục được duy trì.
Bên cạnh đó, tại một số nơi, điều kiện thiết bị và kết nối Internet vẫn chưa đồng đều. Một số phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn chưa có điện thoại thông minh hoặc đang sử dụng thiết bị cũ, cấu hình thấp. Ở vùng sâu, vùng xa, một số khu vực còn gặp tình trạng kết nối Internet chưa ổn định. Đặc biệt, tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, khoảng cách số còn gắn với trình độ dân trí không đồng đều và rào cản ngôn ngữ. Đại diện Hội LHPN xã Thu Cúc cho biết trên 80% phụ nữ của xã là đồng bào dân tộc thiểu số; việc sử dụng điện thoại thông minh chưa thành thạo ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.

Những khó khăn liên quan đến đăng nhập, xác thực, khai báo thông tin hoặc liên thông dữ liệu giữa các hệ thống cũng hạn chế phụ nữ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến hiệu quả
Một vấn đề khác được phản ánh qua khảo sát là chính bản thân các dịch vụ công trực tuyến vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng thân thiện hơn với người sử dụng.
Đại diện Hội LHPN xã Lương Sơn cho rằng một số dịch vụ tuy đã được số hóa nhưng quy trình còn nhiều bước, thuật ngữ chuyên môn khó hiểu. Trong khi đó, đại diện Hội LHPN xã Hợp Kim cũng chỉ ra những khó khăn liên quan đến đăng nhập, xác thực, khai báo thông tin hoặc liên thông dữ liệu giữa các hệ thống.
Điều này cho thấy, để phụ nữ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến hiệu quả, chỉ phổ cập kỹ năng số cho người dân là chưa đủ. Cùng với việc nâng cao năng lực số, cần tiếp tục đơn giản hóa quy trình, giảm các bước thao tác, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và tăng cường các hình thức hướng dẫn trực quan.
Từ kết quả khảo sát, có thể thấy "khoảng cách số" của phụ nữ không phải một khoảng cách duy nhất. Đó là khoảng cách về thiết bị, kỹ năng, khả năng tiếp cận thông tin, sự tự tin và khả năng tự mình thực hiện các thao tác số.
Và cũng chính từ những "điểm trắng" ấy, nhiều địa phương đã bắt đầu tìm ra lời giải: Muốn phụ nữ bước qua "điểm nghẽn" số, cần đồng thời giúp họ có thiết bị, có kỹ năng, có môi trường học tập, có người hỗ trợ và có những nền tảng dịch vụ công đủ đơn giản để họ có thể tự mình sử dụng.











