12 nội dung cốt lõi trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động - bước đột phá nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội, hướng đến 2 mục tiêu chiến lược 100 năm; đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh ý nghĩa của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: ST
Sáng 07/02, trong khuôn khổ Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Phạm Minh Chính - Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - đã trình bày Chuyên đề Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Chương trình hành động mang tính chiến lược, tổng thể, cụ thể, sát thực tiễn
Theo Thủ tướng, Chương trình hành động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cách làm đổi mới, vừa mang tính chiến lược, tổng thể, vừa mang tính cụ thể, sát thực tiễn, tiết kiệm thời gian, khả thi, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội sớm đi vào thực tiễn, phát huy hiệu quả đối với mọi lĩnh vực để Nhân dân nhanh chóng được thụ hưởng thành quả của Đại hội XIV.
Chương trình hành động đã lượng hóa, cụ thể hóa và thể hiện sinh động, rõ ràng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảngbằng những nhiệm vụ, đề án, dự án cụ thể; gồm 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đặc biệt 3 phụ lục là điểm nhấn, thể hiện rõ các chỉ tiêu chủ yếu của cả nước (30 chỉ tiêu), các ngành, lĩnh vực, địa phương (38chỉ tiêu) và 272 nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng, chiến lược giai đoạn 2026-2030, mang tính “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”.
Chương trình hành động thể hiện sự đổi mới trong tư duy, cách nghĩ, cách làm; lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể, mọi hoạt động đều hướng đến Nhân dân; đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả cụ thể”; lấy hiệu quả thực thi, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Phương châm thực hiện nhiệm vụ, công việc là chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, chuyển từ “nhận thức” thành “hành động”, khắc phục triệt để tình trạng “nói nhiều, làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói không đi đôi với làm”; góp phần chấm dứt lối làm việc quan liêu, hình thức, xa rời Nhân dân, xa rời thực tiễn.
Chương trình hành động nhấn mạnh sự đột phá trong tổ chức thực hiện gắn với phân cấp, phân quyền, phân công, phân bổ nguồn lực và hệ thống đo lường, đánh giá kết quả.
Thông qua việc xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, phân công nhiệm vụ cụ thể, theo tinh thần “6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả”, các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan liên quan phải tập trung thực hiện từng nhiệm vụ, bảo đảm thời gian, kết quả cụ thể.
12 nội dung cốt lõi của Chương trình hành động
Chương trình hành động xác định rõ 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu:
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước
Thể chế được xác định rõ là “đột phá của đột phá”, đi trước, mở đường, chuyển đổi trạng thái từ tập trung quản lý sang kiến tạo phát triển và thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Hoàn thiện thể chế gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát. Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Xây dựng khung khổ pháp lý thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ tài chính, tài sản mã hóa, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, công nghệ mới…
Thứ hai, xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thúc đẩy tăng trưởng hai con số gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế tri thức… Nâng cao năng lực sản xuất các ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược. Phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực mới nổi, các lĩnh vực dịch vụ có lợi thế cạnh tranh. Phát triển, vận hành các mô hình kinh tế mới.
Thứ ba, phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam
Tập trung phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát huy giá trị văn hóa, tinh thần theo nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng,trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững…
Thứ tư, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới
Tập trung xây dựng nền giáo dục quốc dân theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”. Mọi người dân phải được tiếp cận bình đẳng với giáo dục hiện đại. Nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học, góp phần nâng cao năng suất lao động…
Thứ năm, đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh
Đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu cho tăng năng suất lao động và phát triển bền vững.
Nâng tầm tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia. Tập trung phát triển 11 nhóm công nghệ chiến lược. Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở mọi cấp, mọi ngành.
Tăng cường đầu tư hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia trên toàn quốc.
Thứ sáu, quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân
Kiên quyết “không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Xây dựng cơ chế, chính sách tiếp cận công bằng, bình đẳng về y tế, giáo dục, nhất là Nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…
Thứ bảy, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số
Chú trọng phòng ngừa ô nhiễm môi trường; xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn. Chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050…
Thứ tám, tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại
Đây là yếu tố trụ cột, nền tảng cho phát triển đất nước nhanh, bền vững. Tập trung xây dựng, củng cố nền quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại…
Thứ chín, đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả
Xác định rõ quốc phòng, an ninh và bổ sung đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Triển khai hiệu quả chiến lược đối ngoại toàn diện gắn với nâng tầm ngoại giao Việt Nam.
Tăng cường các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Chủ động, tích cực tham gia định hình các thể chế đa phương. Thúc đẩy mạnh mẽ ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học công nghệ...
Thứ mười, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện đúng quan điểm “Dân là gốc”, “sức mạnh từ Nhân dân”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, động lực và là nguồn lực cho phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”…
Thứ mười một, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân gắn với xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.
Phát huy hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia; hoàn thiện các đề án vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức…
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, cùng với 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, Chương trình hành động xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược về thể chế, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực.
Thứ mười hai, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng
Phát huy bản chất của Đảng là đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ; nâng cao hiệu quả công tác dân vận; củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đặc biệt chú ý đến cơ sở; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.
Nắm vững 5 nguyên tắc hoạt động của Đảng và thực hiện hiệu quả 5 phương thức lãnh đạo của Đảng.
6 nhóm giải pháp
Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, Chương trình hành động đề ra 6 nhóm giải pháp thực hiện.
Sự chủ động, tích cực, linh hoạt của các cấp, các ngành, các địa phương: Tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương (tỉnh, thành, xã, phường, đặc khu) căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chủ động, khẩn trương xây dựng ngay các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện cụ thể vớitinh thần quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm; phân công nhiệm vụ bảo đảm “6 rõ”.
Hoàn thiện thể chế: Tập trung rà soát, hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật trên tất cả các lĩnh vực.
Việc hoàn thiện thể chế với thần đặt ra là “vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó chủ động, tích cực sửa đổi” theo thẩm quyền, vượt thẩm quyền thì báo báo kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách thí điểm đối với những vấn đề mới phát sinh chưa có quy định, hoặc có quy định nhưng thực tế đã vượt qua so với quy định.
Huy động nguồn lực: Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, xây dựng cơ chế, chính sách đột phá khơi thông, phân bổ, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực bằng nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ (gồm các nguồn lực từ Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, từ vốn vay, nguồn lực từ trong nước và ngoài nước, từ đầu tư trực tiếp và gián tiếp…)…
Phát triển nguồn nhân lực: Tập trung đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho hệ thống hành chính nhà nước và khu vực tư nhân.
Rà soát, có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là trong những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Xây dựng cơ chế đặc thù, vượt trội thu hút nhà khoa học, chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài.
Nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ: Đẩy mạnh phát triển, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ hiện đại, nhất là đối với 11 nhóm công nghệ chiến lược, các công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Khuyến khích đổi mới sáng tạo; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong tất cả các ngành, lĩnh vực
Quản lý nhà nước, quản trị quốc gia: Tập trung xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở. Chú trọng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực.
1 mục tiêu, 2 đảm bảo, 3 có, 4 không, 5 hóa, 6 rõ trong triển khai Nghị quyết
Với tinh thần “nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, tầm nhìn; động lực bắt nguồn từ sự đổi mới, sáng tạo; sức mạnh bắt nguồn từ Nhân dân, doanh nghiệp”, “tiết kiệm thời gian, coi trọng trí tuệ và sự quyết đoán kịp thời, đúng thời điểm”, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, các địa phương, các cơ quan trong hệ thống chính trị tập trung quán triệt nghiêm túc, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả Chương trình hành động với phương châm:
“1 mục tiêu” xuyên suốt là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
“2 bảo đảm” là bảo đảm phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và bảo đảm an ninh, an toàn, an dân.
“3 có” trong đóng góp nguồn lực: có sự đóng góp của Nhà nước, của doanh nghiệp, của Nhân dân.
“4 không” để chống lãng phí thời gian: không lãng phí một ngày; không chậm trễ trong một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm.
“5 hóa” cho phát triển: xanh hóa; số hóa; tối ưu hóa nguồn lực; thông minh hóa trong quản trị; hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
“6 rõ” trong phân công nhiệm vụ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả./.












