2 triệu đồng có thể là ngưỡng truy cứu tội tham ô trong trường hợp nào?

Theo quy định hiện hành, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản.

Đặc biệt, ngay cả khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng, người vi phạm vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong những trường hợp luật định.

Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định về tội tham ô tài sản. Theo đó, hành vi này trước hết phải có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Quy định này áp dụng không chỉ đối với khu vực nhà nước mà còn đối với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.

Từ 2 triệu đồng trở lên có thể bị truy cứu hình sự

Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng sẽ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của tội tham ô tài sản, với mức hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù.

Như vậy, con số 2 triệu đồng được xem là một mốc định lượng quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi tham ô tài sản.

Dưới 2 triệu đồng vẫn có thể phạm tội

Khoản 1 Điều 353 quy định rõ: trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu về tội tham ô tài sản nếu thuộc một trong hai trường hợp.

Thứ nhất, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Nếu một người đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản nhưng sau đó tiếp tục thực hiện hành vi tương tự, dù giá trị tài sản lần sau dưới 2 triệu đồng, vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Thứ hai, đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Mục này bao gồm nhóm tội phạm tham nhũng, trong đó có các tội như tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và một số tội phạm chức vụ khác.

Một điểm quan trọng khác là giá trị tài sản chỉ là một phần trong việc xác định tội danh. Để xem xét tội tham ô tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ người thực hiện hành vi có chức vụ, quyền hạn, có lợi dụng chức vụ, quyền hạn và tài sản bị chiếm đoạt có phải là tài sản mà người đó có trách nhiệm quản lý hay không.

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng lưu ý đây là những dấu hiệu pháp lý đặc trưng để phân biệt tội tham ô tài sản với các tội chiếm đoạt tài sản khác.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Bộ luật Hình sự đã mở rộng phạm vi xử lý tội tham ô đối với khu vực ngoài Nhà nước, nhằm xử lý hành vi biển thủ tài sản mà người phạm tội được giao quản lý.

Khung hình phạt cao nhất hiện nay là tù chung thân

Từ ngày 1-7-2025, Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực. Đối với tội tham ô tài sản, luật đã bỏ hình phạt tử hình.

Theo quy định hiện hành, trường hợp chiếm đoạt tài sản từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 5 tỷ đồng trở lên có thể bị phạt 20 năm tù hoặc tù chung thân.

Trong khi đó, khung cơ bản đối với hành vi chiếm đoạt tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng là 2-7 năm tù.

PHƯƠNG VI

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/2-trieu-dong-co-the-la-nguong-truy-cuu-toi-tham-o-trong-truong-hop-nao-post595966.html