3 Cục: Lâm nghiệp, Biển và Hải đảo, Biến đổi Khí hậu nói gì về carbon xanh dương?
Đại diện Cục Biến đổi Khí hậu, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cùng cho rằng lộ trình carbon xanh dương cần đi từ cơ sở pháp lý, dữ liệu và tiềm năng thực tế, đồng thời phải giải được bài toán nguồn lực để tránh dừng ở kế hoạch.
Ngày 23/9, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức Họp Nhóm công tác triển khai Chương trình Đối tác Hành động carbon xanh dương (NBCAP) Việt Nam lần thứ hai.
Cuộc họp tập trung thảo luận sáu nhóm hành động ưu tiên trong Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về các-bon xanh dương giai đoạn 2026–2030, gồm chính sách và quản trị; bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái; tài chính và đầu tư; khoa học, dữ liệu và hệ thống đo lường, Báo cáo và Thẩm định (MRV); khu vực tư nhân và sinh kế bền vững; nâng cao năng lực và truyền thông.

Tại cuộc họp, đại diện các cơ quan quản lý đã nêu nhiều vấn đề liên quan đến tính pháp lý, khả năng triển khai và hiệu quả kinh tế của lộ trình.
Cần lộ trình cụ thể, tránh dừng trên giấy
Theo TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-zôn, Cục Biến đổi Khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), về mặt chính sách, Việt Nam đang nghiên cứu sửa đổi Luật Biển và Hải đảo và Luật Bảo vệ môi trường. Đến nay, hai dự thảo luật cơ bản đã được hoàn thiện và các nội dung liên quan đến carbon xanh dương đã được đề cập.
Theo ông Huy, đây là nền tảng pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động trong thời gian tới. Vấn đề đặt ra là cần xây dựng được một lộ trình cụ thể, xác định rõ trong từng giai đoạn ai làm gì, những nội dung nào cần triển khai và cách thức đưa các nhiệm vụ này vào chương trình hành động quốc gia.

“Chúng tôi mong muốn thời gian tới có một lộ trình cụ thể, ai sẽ làm gì, những nội dung đang bàn hôm nay không bị trôi đi và không chỉ nằm trên giấy”, ông Lương Quang Huy nói.
Trong khi đó, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho rằng nếu tiếp cận carbon xanh dương theo hướng tạo nguồn thu mới từ tín chỉ carbon, trước hết phải tiếp cận từ việc quản lý. Quản lý nhà nước liên quan đến quản lý tín chỉ carbon như thế nào.
Theo đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, hệ thống pháp luật, nghị định liên quan đến quản lý tín chỉ carbon hiện đã có những quy định làm nền tảng. Vì vậy, lộ trình về carbon xanh dương cần dựa trên nền tảng pháp lý và định hướng phát triển thị trường carbon hiện nay để đưa ra các lộ trình, vì carbon xanh dương chỉ là một phần rất nhỏ trong hệ thống carbon.

Đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho rằng tín chỉ carbon xanh dương hiện được đánh giá có giá trị cao, nhưng tiềm năng tạo ra lại tương đối nhỏ.
“Nếu chính sách quản lý phát triển thị trường carbon ưu tiên sử dụng tín chỉ carbon ở thị trường trong nước thì hiện nay tín chỉ carbon xanh dương sẽ không thể cạnh tranh được với các loại tín chỉ khác”, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhận định.
Theo phân tích này, ngay cả tín chỉ carbon trong lĩnh vực lâm nghiệp cũng có thể gặp khó khăn khi cạnh tranh trên thị trường trong nước do nguồn cung tín chỉ từ nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, nếu mục tiêu của carbon xanh dương chủ yếu là tạo lợi ích kinh tế từ thị trường trong nước thì mục tiêu này được cho là khó khả thi...
Tiền đâu để làm việc này?
Theo đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, vấn đề được quan tâm hàng đầu là tính pháp lý của việc triển khai lộ trình. Đại diện Cục cho biết hiện chưa rõ lộ trình sẽ được phê duyệt theo hình thức nào, đồng thời mong muốn dự thảo sớm được gửi tới các đơn vị trong Bộ để lấy ý kiến chính thức, hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét.
“Điều tôi mong nhất đó là tính pháp lý của việc triển khai lộ trình này”, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam nói.
Bên cạnh đó, đại diện cơ quan này cho rằng Dự thảo Lộ trình đã đề cập các văn bản pháp lý hiện hành cũng như đề xuất nhiều hoạt động, nhưng vẫn cần làm rõ cách thức thực hiện và những hỗ trợ cụ thể để biến các nội dung đó thành hành động.
Theo đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, trong các hệ sinh thái carbon xanh dương, rừng ngập mặn là lĩnh vực tương đối dễ tiếp cận và Việt Nam đã có nhiều năm nghiên cứu, triển khai. Trong khi đó, các hệ sinh thái khó tiếp cận hơn như thảm cỏ biển vẫn cần được bổ sung số liệu, phương pháp và cách thức triển khai cụ thể.

“Chúng ta xây dựng lộ trình, nhưng làm cách nào để thực hiện được? Điều gì hỗ trợ cho việc triển khai việc này? Điều này chưa được rõ”, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đặt vấn đề.
Đặc biệt, nguồn lực tài chính được xem là một trong những thách thức lớn đối với việc triển khai lộ trình. “Tiền đâu để làm việc này?”, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đặt câu hỏi, đồng thời cho rằng nếu không có ngân sách thì rất khó triển khai các mục tiêu đã đề ra.
Theo đại diện này, dù xu hướng hiện nay đều nhấn mạnh nguồn tài chính cho các hoạt động khí hậu cần có sự tham gia của Nhà nước, nhưng việc bố trí và phê duyệt các nguồn lực tài chính cụ thể vẫn là vấn đề cần được giải quyết.
Cùng với nguồn lực trong nước, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đề nghị các đối tác quốc tế có những cam kết cụ thể hơn về tài chính, tổ chức thực hiện và quy mô hỗ trợ.
“Chúng ta không thể làm mãi bằng lý thuyết được”, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần xác định rõ tổ chức quốc tế nào tham gia, cam kết bao nhiêu và hỗ trợ theo phương thức nào.
Doanh nghiệp nhấn mạnh dữ liệu và tính minh bạch
Theo bà Lê Gia Thanh Trúc, chuyên viên thị trường carbon, khu vực Châu Á, Karbon-X, chia sẻ kinh nghiệm từ một dự án phục hồi rừng ngập mặn tại Senegal với quy mô ít nhất 7.000 ha. Dự án hướng tới đồng thời nhiều mục tiêu như bảo vệ đa dạng sinh học, lưu trữ carbon, tăng cường khả năng chống chịu dài hạn cho vùng ven biển và cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Theo bà Thanh Trúc, việc kết nối với cộng đồng là một yếu tố quan trọng để duy trì dự án carbon bền vững và lâu dài.
Một vấn đề khác được đại diện này nhấn mạnh là dữ liệu phải minh bạch và đáng tin cậy. Đây được xem là nền tảng để làm việc với khách hàng cũng như các nhà đầu tư tiềm năng trong lĩnh vực carbon. Đặc biệt với những dự án phức tạp như carbon xanh dương, nhà đầu tư cần có thông tin đầy đủ, minh bạch để đánh giá và đưa ra quyết định.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: BTC
Trong giai đoạn 2026–2027, trọng tâm sẽ là xây dựng các nền tảng cần thiết về thể chế, dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và Danh mục phân loại xanh dương để tạo điều kiện cho triển khai và huy động nguồn lực.
Tầm nhìn đến năm 2030 hướng tới quản lý thống nhất các hệ sinh thái carbon xanh dương, từng bước tích hợp vào Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và các mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, đồng thời hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
TS. Vũ Đức Đam Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NN&MT), nhấn mạnh: “Cuộc họp Nhóm công tác lần thứ hai đánh dấu bước chuyển của NBCAP từ xây dựng nền tảng sang giai đoạn triển khai có trọng tâm. Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia sẽ giúp xác định các ưu tiên và tạo cơ sở để chuyển những ưu tiên đó thành các chương trình, dự án cụ thể, đồng thời kết nối các dự án với nguồn lực và các đối tác phù hợp, trên cơ sở các ưu tiên phát triển do Việt Nam xác định.”
Cuộc họp cũng ghi nhận tiến độ triển khai NBCAP kể từ Lễ khởi động Chương trình và Họp Nhóm công tác lần thứ nhất vào tháng 5/2026. Dự thảo Lộ trình được xây dựng trên cơ sở rà soát hiện trạng, thu thập bằng chứng, phỏng vấn các bên liên quan và hai hội thảo tham vấn được tổ chức tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 9/2026, với sự tham gia của các cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các đối tác liên quan.
Trên cơ sở các ý kiến trao đổi, Dự thảo Lộ trình sẽ tiếp tục được hoàn thiện trước khi trình Lãnh đạo Bộ NN&MT xem xét và ban hành. Song song với đó, NBCAP sẽ tiếp tục phối hợp với các đối tác để hiện thực hóa các ưu tiên hành động, chuyển hóa các nội dung của Lộ trình thành cơ hội đầu tư cụ thể và có khả năng nhân rộng.
