40 năm canh cánh bí ẩn bộ hài cốt ôm khẩu súng AK trên nóc nhà TP.HCM
Hai lần gia đình đưa hài cốt về an táng với niềm tin Anh hùng Lê Tấn Quốc đã trở về. Nhưng gần 60 năm sau Tết Mậu Thân 1968, bà Lê Thị Liên vẫn chưa thể chắc cha đang nằm ở đâu.

Hẹn ngày về
40 năm canh cánh bí ẩn bộ hài cốt ôm khẩu súng AK trên nóc nhà TP.HCM
Vi Lê - Quang Thông
_____
Hai lần gia đình đưa hài cốt về an táng với niềm tin Anh hùng liệt sĩ Lê Tấn Quốc đã trở về. Nhưng gần 60 năm sau Tết Mậu Thân 1968, bà Lê Thị Liên vẫn chưa thể chắc chắn cha đang nằm ở đâu.
"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!"
Bà Lê Thị Liên (hiện 75 tuổi, phường Tân Phú), con gái Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Tấn Quốc (bí danh Bảy Rau Muống), nhớ lại lời chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đúng thời khắc giao thừa Tết Mậu Thân 1968. Trong không khí rạo rực đầu xuân, cả miền Nam nín thở chuẩn bị cho một trận đánh đi vào lịch sử, toàn dân sục sôi một niềm tin thắng lợi.
Trong căn nhà nhỏ trên đường Hoàng Đạo (nay là đường Trần Văn Đang, phường Nhiêu Lộc), không khí đêm giao thừa lại đặc quánh sự căng thẳng. Bà Liên khi đó 12 tuổi, ngồi thu lu trước chiếc bảng đen, giả vờ tập viết. Ít phút trước, cha bà lặng lẽ dẫn 5-6 người đàn ông mặc quần tây, áo sơ mi tươm tất vào nhà. Họ ăn bận chỉn chu, dáng vẻ chẳng khác những vị khách đi chúc Tết sớm.
Trước khi khép cửa, ông Quốc cúi xuống dặn con gái ngồi yên canh cửa, hễ thấy người lạ bước vào hoặc người bên trong tự ý đi ra mà không do ông dẫn, phải lập tức gập chiếc bảng đen xuống. Đó chính là mật hiệu báo động cuối cùng để người chỉ huy biết cơ sở đã bị lộ.
Đêm ấy, chiếc bảng không sập xuống lần nào. Nhóm chiến sĩ Biệt động thành rời căn hầm bí mật an toàn đúng kế hoạch. Thấy con hoàn thành nhiệm vụ, ông Quốc khẽ xoa đầu, rồi bảo con đi bộ về trú tại căn nhà gọi là vườn rau muống (khu vực Đầm Sen ngày nay), dặn khi nào cha đón mới được về lại nhà.
Nghe lời cha, cô bé 12 tuổi lặng lẽ bước đi một mình giữa đêm 30 Tết mịt mùng. Chỉ ít giờ sau, Phó chỉ huy Đội 5 Biệt Động Bảy Rau Muống bước vào trận đánh lịch sử Mậu Thân 1968, để lại lời hẹn "đợi ba đón" mãi dở dang.
"Không thấy tôi về, hãy làm giỗ vào ngày mùng 1"
Từ căn nhà ở đường Hoàng Đạo đến khu vực vườn rau muống gần chục cây số, được lực lượng cách mạng chọn làm an toàn khu. Bà Liên lầm lũi đi bộ trên con đường thưa người, càng đi về phía nghĩa địa càng hiu quạnh.
"Lúc đó, tôi đâu biết là giao thừa. Tôi cũng không có cảm giác Tết", bà nhớ lại.
Trong ký ức của bà Liên, Tết của những năm trước đó luôn bắt đầu bằng chiếc đầm mới cha mẹ cho. Ông Quốc ở nhà kiệm lời nhưng rất chiều con gái. Mỗi dịp cuối năm, dù bận đến đâu, ông cũng gắng đưa con ra chợ chọn đồ để mặc sáng mùng 1.
Riêng năm 1968, đã sát Tết mà cha vẫn chưa nhắc chuyện sắm áo mới. Căn nhà trong vườn rau muống cũng không còn tất bật: không mâm cỗ tất niên được bày biện, bàn thờ tổ tiên cũng chưa kịp sửa soạn hương hoa như mọi năm. Bà Liên thấy không khí thật khác, nhưng không hiểu vì sao.
Về đến nơi, bà Liên mệt lả thiếp đi, trong đầu vẫn mơ màng nghĩ vài hôm nữa cha sẽ đến đón như những lần công tác trước.

Con gái Anh hùng liệt sĩ Lê Tấn Quốc xúc động khi nhắc về lần cuối gặp cha đêm 30 Tết Mậu Thân 1968.
Suốt ba ngày Tết, bà Liên chỉ quanh quẩn xách nước tưới rau, nhổ cỏ rồi lại ngồi trước hiên ngóng ra con đường đất, mong thấp thoáng bóng cha hoặc mẹ xuất hiện.
Mãi đến sau mùng 6 Tết, bà Nguyễn Thị Hảo, mẹ bà Liên, mới về. Không giải thích điều gì, người mẹ lập tức đưa con gái rời vườn rau muống về một điểm trú an toàn hơn ở Dầu Tiếng, "vùng đất lửa" và là căn cứ cách mạng quan trọng ở miền Đông Nam Bộ.
Trên suốt chặng đường, bà Liên vẫn tin rằng cha đang làm nhiệm vụ ở đâu đó và sẽ sớm trở về đoàn tụ. Đến căn cứ, cả mẹ và đồng đội của cha, không một ai nói với bà rằng lời hẹn "ba sẽ đón con" đã mãi mãi không thể thực hiện.
Nhiều năm sau, khi đã trưởng thành, bà Liên mới được mẹ kể lại lời dặn cuối cùng của cha trước lúc lên đường. Ông biết phía trước là một trận đánh mà không ai dám chắc sẽ có ngày trở về. Ông nói với vợ: "Không thấy tôi về, hai mẹ con hãy làm giỗ vào ngày mùng 1 Tết".
Bộ hài cốt bí ẩn cùng khẩu AK trên nóc nhà
Lời dặn của Anh hùng liệt sĩ Lê Tấn Quốc đêm 30 Tết năm 1968 chẳng phải một linh cảm vu vơ. Rạng sáng mùng 2, ông cùng Đội 5 Biệt động Sài Gòn tiến vào trận đánh Dinh Độc Lập - một trong năm mục tiêu trọng yếu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Gần sáu thập kỷ trôi qua, ký ức về trận đánh ấy vẫn còn nguyên trong tâm trí những người đồng đội sống sót.
Bà Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chín Nghĩa), nữ chiến sĩ Biệt động duy nhất trực tiếp tham gia trận đánh vào Dinh Độc Lập, kể sau khi hoàn thành đợt tập kích đầu tiên, đơn vị nhanh chóng rơi vào thế bị bao vây.
Khoảng 5h30 sáng mùng 2 Tết, Tiểu đoàn Dù của quân đội Sài Gòn từ khu vực Tao Đàn tràn sang phản kích. Súng đạn dồn dập buộc các chiến sĩ vừa đánh vừa mở đường máu rút về hướng Thủ Khoa Huân - Nguyễn Du.
Từ 15 người xuất phát, Đội 5 lúc ấy chỉ còn lại 8 chiến sĩ, trong đó một người bị thương nặng.
Theo lời kể từ Đại tá Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu), nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn - Gia Định, cả đơn vị khi đó chạy vào một tòa nhà đang xây dở trên đường Nguyễn Du để cố thủ. Đối phương nhanh chóng khép chặt vòng vây, lần lượt chiếm tầng 1 một rồi tầng 2. Những chiến sĩ Biệt động thành giữ tầng 3, bám từng góc tường, dùng từng viên đạn còn lại cầm chân địch.
Cuộc giằng co kéo dài từ rạng sáng đến gần 6h. Khi vòng vây khép chặt, Anh hùng liệt sĩ Lê Tấn Quốc quyết định ở lại chống trả để những người còn lại tìm đường thoát thân.
"Thấy không thể giữ được nữa, anh Bảy bảo anh em tìm cách thoát ra. Anh ở lại chặn địch", bà Chín Nghĩa nhớ Đội phó chỉ kịp dặn anh em rút đi rồi ôm khẩu AK lao xuống đón đầu địch.
Tiếng súng vang lên một lúc rồi im bặt. Đó là lần cuối cùng đồng đội nhìn thấy ông.



Kỷ vật, các bức ảnh kỷ niệm của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Tấn Quốc được gia đình cất giữ.

Nhiều năm sau, khi xâu chuỗi lại những lời kể từ đồng đội, ông Hòa, cựu chiến sĩ Đội 5, cho rằng sau khi bị thương, Đội phó Bảy Rau Muống vẫn cố men lên khu vực áp mái của tòa nhà để tránh truy kích của địch trước khi hy sinh.
Chính tại phần mái hiên tầng 3 này, gần 19 năm sau Tết Mậu Thân 1968, khi căn nhà cũ số 86 Nguyễn Du bị phá dỡ, đội công nhân phát hiện một bộ hài cốt nằm lặng dưới lớp cát, hai tay vẫn ôm chặt khẩu AK đã hoen gỉ.
"Các chú tin đây là ba con", bà Liên nhớ lại lời đồng đội của cha.
Thời điểm ấy chưa có giám định ADN. Việc nhận diện chỉ dựa vào vị trí phát hiện hài cốt, khẩu súng AK còn ôm trong tay và lời xác nhận của những người trực tiếp tham gia trận đánh. Bộ hài cốt sau đó được chính quyền địa phương an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM. Gia đình hương khói với niềm tin người chồng, người cha mất tích sau mùa xuân Mậu Thân cuối cùng cũng đã tìm được.
Những tưởng hành trình đi tìm Anh hùng liệt sĩ Lê Tấn Quốc đã khép lại. Nhưng khoảng năm 1990, một người tự nhận có khả năng ngoại cảm tìm đến bà Liên.
Người này nói với gia đình rằng tại khu bãi sình lầy gần cư xá Bắc Hải, thuộc nghĩa địa Chí Hòa cũ (nay là Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng), còn một vị trí chôn cất các chiến sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Theo lời chỉ dẫn, khi đào đất, lực lượng tìm kiếm phát hiện 3 chiếc dép râu đặc trưng của chiến sĩ giải phóng.
Lần tìm hài cốt thứ hai trở thành chỗ dựa tinh thần cho bà Hảo, người phụ nữ đã dành gần nửa cuộc đời để chờ chồng. Sau khi bị địch bắt năm 1971 và trở về năm 1974, bà Hảo lâm bệnh nặng, sức khỏe suy kiệt vì nhiều năm tù đày. Vừa nghe có thể tìm thấy hài cốt, bà nhất quyết đòi đến hiện trường.
"Mẹ nói dù thế nào cũng phải đi. Bà tin lần này sẽ tìm được cha", bà Liên nhớ lại.
Bộ hài cốt sau đó được cất bốc và đưa về an táng trang trọng. Một lần nữa, gia đình lại thắp hương đón một liệt sĩ trở về nhà và tin rằng đó là cha.
"Mẹ tôi đã ra đi thanh thản", bà Liên nói.
Nhưng với người con gái, câu hỏi cha nằm ở đâu chưa có lời đáp cuối cùng.
Hai bộ hài cốt được gia đình hương khói suốt nhiều năm, một bia mộ ghi tên Lê Tấn Quốc, tấm bia còn lại là Lê Quốc, nhưng chưa bộ nào được giám định ADN. Mỗi lần thắp nhang, bà Liên vẫn tự hỏi liệu người cha đã dặn mẹ "giỗ mình vào mùng 1 Tết" đang nằm ở đâu, liệu có phải một trong hai liệt sĩ đã tìm thấy, hay vẫn còn ở một nơi nào khác giữa lòng thành phố.
"Tôi vẫn đợi mong đón cha về"
Nhớ về người cha kiệm lời và hiền hậu, bà Liên không thể nào quên những ngày tháng thơ ấu được ngồi sau chiếc xe đạp tàng tàng của ông.
Khi con gái chào đời vài tháng, chiến sĩ Biệt động thành Bảy Rau Muống bị địch bắt, đày ải ở Côn Đảo suốt 5 năm trời. Đến năm 1961, khi bà Liên 6 tuổi, ông mới được ra tù, trở về tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng trên đường Trần Văn Đang. Khoảng thời gian từ 6 tuổi đến 13 tuổi là những tháng ngày đong đầy kỷ niệm đẹp của bà bên cha.
Ông Bảy Rau Muống rất thương con gái. Rảnh rỗi, ông lại chở con trên chiếc xe đạp cũ đi khắp các nẻo đường Sài Gòn. "Nhưng những chuyến đi chơi ấy hơi lạ", bà Liên nhớ lại.
Có lần, cha chở bà đi qua con hẻm có bốt gác, nơi trại lính của chính quyền Sài Gòn. Ông thong thả đạp xe, thì thầm đố con gái: "Con nhìn vào trong trại lính kia xem. Con thấy mấy hàng lính đang xếp hàng không? Đố con một hàng ngang có mấy người?".
Cô con gái nhỏ nhanh nhảu: "Một hàng ngang có 4 người cha ơi!".
Ông Bảy cười khà khà: "Giỏi! Vậy con nhìn từ đầu hàng xuống cuối hàng, đếm xem có bao nhiêu hàng như vậy? Con cứ tưởng tượng như đàn gà con chạy theo mẹ vậy đó, cứ đếm xem có mấy hàng rồi về cha đố tiếp".
Lần khác, cha dắt bà Liên đến khu vực ngã ba Hòa Hưng, thăm nhà người bạn học ở gần trường Chí Hòa cũ, nằm gần trại tạm giam Chí Hòa. Ông lén chỉ vào bức tường đá kiên cố của trại giam rồi bảo: "Trong kia hình bát quái đó con. Con đi vô chơi với bạn, thử tìm lối ra đường vào. Xem chỗ nào có cửa, chỗ nào có mấy tên lính đứng gác".

Bà Liên và em trai Thanh Tòng đứng trước bàn thờ của gia đình.
Cô bé Liên hồn nhiên nghe lời cha, vừa đi chơi vừa quan sát từng góc ngách, rồi về nhà ngô nghê kể lại cho cha nghe mà không hề hay biết, chính mình vô tình trở thành cô trinh sát nhỏ giúp cha thu thập tin tức tình báo. Những chiếc xe rau muống đêm đêm, chuyến đi dạo phố ban ngày, tất cả đều là vỏ bọc của một người chỉ huy Biệt động Sài Gòn mưu trí và quả cảm.
Khác với chị gái có nhiều hoài niệm sâu đậm về cha, người em trai Lê Thanh Tòng (64 tuổi) gần như lớn lên với khoảng trống ký ức.
Năm 1968, ông Tòng mới 6 tuổi. Trong trí nhớ của ông, hình ảnh về cha mẹ chỉ là những chuyến đi xa bất tận. Vì còn quá nhỏ, mỗi lần ông Bảy Rau Muống và vợ đi tập huấn mật ở vùng căn cứ Củ Chi hay Bến Dược, họ lại phải ẵm cậu con trai đi theo.
Ông Tòng nhớ lại: "Lúc đó tôi còn nhỏ lắm, chỉ nhớ mỗi lần ba má ẵm vào trại huấn luyện ở Củ Chi hay Thanh An - Dầu Tiếng, các chú các cô trên căn cứ đều dùng khăn rằn bịt kín mặt để giữ bí mật. Lần đi như vậy là những gì tôi còn giữ về cha".
Thời điểm cả hai vợ chồng ông Bảy đều phải đi công tác đột xuất cả tuần lễ, dắt con trai theo. Trước khi đi, người mẹ kho một nồi thịt to để trên bếp, dặn cô con gái lớn ở nhà đói bụng thì hầm thịt lên mà ăn. Nhưng bà Liên ham chơi, thường bỏ nhà trống, đến ăn "cơm chùa" nhà bạn, đến khi về thì nồi thịt kho đã mốc xanh mốc đỏ.
Bà Liên thường ở nhà một mình. Tối đến, bà cùng đứa bạn hàng xóm thó lại ôm nhau ngủ trong căn nhà vách gỗ, chờ tiếng gõ cửa quen tai.
Từ sau cái Tết 1968, căn nhà trên đường Hoàng Đạo khép lại cùng tuổi thơ của bà Liên. Năm 2009, mẹ bà mang nỗi nhớ suốt hơn nửa đời người cũng đã về với chồng. Bà Liên sau này được các chú đồng đội của cha động viên nhập ngũ năm 1978, sau công tác trong ngành tư pháp, rồi kết hôn.
Chồng mất sớm, không có con, bà Liên chuyển về sống cùng gia đình người em trai. Hai chị em, giờ đều đã bước sang tuổi xế chiều, vẫn thay nhau chăm lo hương khói cho cha mẹ.
Cuộc sống bình lặng ấy bỗng xáo động khi TP.HCM triển khai tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực công viên Lê Thị Riêng. Ngay khi biết thông tin, ông Tòng, bà Liên chủ động liên hệ với Bộ Tư lệnh TP.HCM, đăng ký thông tin thân nhân và sẵn sàng lấy mẫu ADN.
Khác với những lần tìm kiếm trước chỉ có thể dựa vào lời kể của đồng đội, nhân chứng hay linh cảm của người còn sống, lần này bà đặt niềm tin vào khoa học.
"Tôi vẫn đợi được đón cha về, đó là điều hạnh phúc nhất. Còn nếu không phải, tôi vẫn tin hai người gia đình đang thờ đều là người lính đã ngã xuống vì Tổ quốc. Họ cũng xứng đáng có một mái nhà để con cháu thắp nén nhang", bà nói.
Theo cuốn sách Biệt Động Sài Gòn của Đại tá Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu), nguyên Chỉ huy trưởng kiêm Tư lệnh phó lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Lê Tấn Quốc tham gia cách mạng từ năm 1945, chiến đấu tại chiến trường miền Tây Nam Bộ trước khi được điều động về hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Từ năm 1954 đến đầu năm 1968, ông phụ trách vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng và trực tiếp tham gia lực lượng Biệt động Sài Gòn.
Tháng 6/1956, ông bị chính quyền Sài Gòn bắt giữ và tra tấn dã man nhưng kiên quyết không khai báo. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động bí mật, xây dựng nhiều cơ sở cách mạng ngay giữa lòng đô thị.
Rạng sáng 31/1/1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân), trên cương vị Đội phó Đội 5 Biệt động Sài Gòn, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng tham gia trận đánh Dinh Độc Lập và anh dũng hy sinh.
Với những cống hiến và chiến công đặc biệt xuất sắc, ông được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba. Ngày 6/11/1978, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.











