Ký ức nghẹn lòng của người vợ Biệt động Sài Gòn giữa Tết Mậu Thân 1968
Ở tuổi ngoài 90, bà Trần Thị Út vẫn nhớ rất rõ buổi sáng Tết Mậu Thân 1968, ngày bà nhìn thấy thi thể chồng ngay trước căn nhà của mình nhưng không dám bước ra nhận.
“Đau chứ, chồng mình mà. Nhưng lúc đó mà chạy ra là chết hết”, bà Trần Thị Út (92 tuổi) nói.
Người chồng bà nhắc đến là ông Trần Phú Cương (bí danh Năm Mộc), Đội phó Đội 4 Biệt động Sài Gòn. Chỉ vài giờ trước đó, ông cùng đồng đội từ căn nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm lên đường đánh Đài Phát thanh Sài Gòn. Ông hy sinh trong trận đánh.
Khi thi thể chồng được đưa qua, phía dưới căn nhà vẫn còn hai chiến sĩ biệt động ẩn náu. Năm đứa con của bà ở bên trong, ngoài đường lại có người đứng theo dõi. Bà Út hiểu rằng nếu bước ra nhận chồng, căn nhà có thể bị lộ.
Vậy là bà đứng nhìn...
Căn hầm bí mật dưới Tiệm may Quốc Anh
Gần 60 năm sau, khi kể lại chuyện ấy bà không khóc. Có những đoạn bà còn cười, nhất là khi nhắc đến quãng thời gian sống cùng ông Cương mà chẳng biết chồng mình là chiến sĩ biệt động. Bà nói hồi trẻ mình chỉ biết may vá, nuôi con, lo chuyện gia đình. Chuyện của chồng, ông không nói thì bà cũng không hỏi.

Bà Trần Thị Út - vợ liệt sĩ Trần Phú Cương.
Thậm chí, suốt một thời gian dài, bà không biết ngay dưới nền nhà mình đang sống có một căn hầm chứa vũ khí.
“Sau này khui lên tôi mới biết. Trời ơi, mình ở trên đó bao nhiêu năm mà có biết gì đâu”, bà nhớ lại.
Câu chuyện về một gia đình Biệt động Sài Gòn, qua lời bà Út, bắt đầu giản dị như thế.
Bà Út gặp ông Cương khi mới hơn hai mươi tuổi. Ông từ miền Bắc vào, học nghề may. Bà cũng là thợ may, hai người được một người chú sống gần nhà mai mối rồi quen nhau. Họ lấy nhau rồi mở tiệm may làm kế sinh nhai.
“Hồi đó tôi mới hơn hai mươi, hai đứa đều làm nghề may. Có người quen mai mối rồi chúng tôi tìm hiểu, thương nhau và thành vợ chồng”, bà kể.
Năm 1965, gia đình chuyển đến căn nhà số 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhà ở gần Đài Phát thanh Sài Gòn, chỉ cách khoảng 100m, phía trước là bảng hiệu Tiệm may Quốc Anh.
Bà Út nhớ những năm ấy cuộc sống của gia đình chẳng có gì khác thường. Hai vợ chồng làm nghề, rồi lần lượt có con. Bà ngồi máy may, lo cơm nước, chăm sóc mấy đứa nhỏ.
Ông Cương cũng làm nghề may, bà Út gần như không nhận thấy điều gì khác thường trong cuộc sống của chồng. Mãi về sau bà mới biết, cuộc sống bình thường ấy cũng chính là lớp vỏ che chắn cho một cơ sở của Biệt động Sài Gòn.
Ngay dưới nền nhà nơi vợ chồng bà và năm đứa con sinh sống là một căn hầm bí mật, miệng hầm được che dưới đáy một chiếc tủ gỗ, bên trong cất giấu súng đạn, thuốc nổ và các trang bị chiến đấu được bí mật chuyển vào qua nhiều đợt. Điều khiến chính bà Út nhiều năm sau vẫn thấy khó tin là người sống ngay trên căn hầm ấy lại hoàn toàn không biết dưới chân mình có gì.
Để giữ bí mật, mỗi lần đồng đội đưa vũ khí về nhà, ông Cương đều tìm một lý do để vợ con đi khỏi. Có hôm ông bảo bà dẫn các con đi chơi, khi khác lại nhờ sang nhà người quen. Đến lúc mấy mẹ con trở về, mọi thứ đã được thu xếp như cũ nên bà cũng không hỏi thêm.

Bà Trần Thị Út vẫn nhớ rất rõ buổi sáng Tết Mậu Thân 1968, ngày bà nhìn thấy thi thể chồng ngay trước căn nhà của mình nhưng không dám bước ra nhận.
Sự thật chỉ được mở ra vào những ngày trước Tết Mậu Thân 1968, khi căn hầm được khui lên để chuẩn bị cho giờ xuất quân. Lần đầu nhìn thấy số vũ khí nằm ngay dưới nền nhà, bà Út mới biết chồng mình tham gia biệt động, nhưng phản ứng của người phụ nữ trẻ lúc ấy, theo lời bà nhớ lại, lại bình tĩnh đến mức chính bà sau này cũng thấy lạ.
“Mãi đến những ngày chuẩn bị cho Mậu Thân, khi căn hầm được mở ra, tôi mới biết nhà mình là nơi giấu vũ khí và chồng mình tham gia Biệt động Sài Gòn. Biết vậy nhưng lúc đó tôi không thấy hoảng sợ”, bà nói.
Bản thân từng tham gia Hội Phụ nữ và hiểu phần nào công việc cách mạng, bà chỉ nghĩ đơn giản rằng chồng làm việc cho cách mạng thì mình ủng hộ, chứ không hỏi sâu hơn về nhiệm vụ ông đang thực hiện.
Chỉ vài ngày sau, căn nhà vốn quen với tiếng máy may và tiếng trẻ nhỏ bắt đầu đón những tốp người đến vào ban đêm. Hàng chục chiến sĩ biệt động bí mật tập trung tại đây, số vũ khí đã nằm dưới lòng đất suốt nhiều năm được lần lượt đưa lên, công việc diễn ra khẩn trương nhưng kín đáo trong khi ban ngày Tiệm may Quốc Anh vẫn phải duy trì nhịp sinh hoạt như một cơ sở làm ăn bình thường giữa phố.
“Chỉ đến lúc thấy mấy chục anh em lần lượt tập trung về nhà nhận vũ khí, tôi mới hiểu nhiệm vụ họ sắp thực hiện lớn hơn rất nhiều so với những gì mình từng hình dung”, bà Út nhớ lại.
Bà không được biết cụ thể họ sẽ đánh đâu, cũng không hỏi khi nào những người lính trở về. Trong những ngày cuối cùng trước giờ xuất quân, phần việc của bà đơn giản là lo cơm nước cho anh em, chăm năm đứa con và tiếp tục giữ cho căn nhà bên ngoài trông không khác gì một tiệm may bình thường.
Người duy nhất bà biết chắc sẽ lên đường trong đêm ấy là chồng mình.
Không dám nhận thi thể chồng...
Đêm 29 Tết, giờ xuất quân cuối cùng cũng đến.
Trong ký ức của bà Út, cuộc chia tay của hai vợ chồng hôm ấy không có những lời dặn dò dài. Giữa lúc đồng đội đang chuẩn bị rời căn nhà qua lối phía sau thông ra con hẻm nhỏ, ông Cương tìm đến vợ, trên tay cầm một quả táo. Ông cắn một nửa, đưa phần còn lại cho bà rồi nói đúng một câu: “Em ở nhà nuôi con, anh đi làm nhiệm vụ”.
“Chỉ vậy thôi”, bà Út nhớ lại.

Bà Trần Thị Út và chồng hồi trẻ.
Kể đến đây, bà vẫn không giải thích được vì sao mình lúc ấy bình tĩnh đến vậy. Bà không khóc, cũng không níu chồng ở lại, chỉ nhìn ông cùng đồng đội lần lượt rời khỏi nhà rồi quay vào với các con. Năm đứa trẻ vẫn cần được chăm sóc, còn căn nhà sau khi lực lượng xuất quân vẫn là một cơ sở phải được giữ an toàn, vì thế mọi sinh hoạt bên ngoài tiếp tục như một đêm bình thường.
“Tôi không khóc, cũng không giữ ông ấy lại. Sau này nghĩ về đêm đó, chính tôi cũng ngạc nhiên vì lúc ấy mình có thể bình tĩnh đến như vậy”, bà nói.
Rạng sáng mùng một Tết, tiếng súng nổ dữ dội giữa Sài Gòn. Đội 4 Biệt động đánh thẳng vào Đài phát thanh, nhanh chóng làm chủ mục tiêu nhưng lực lượng chi viện không thể tiếp cận theo kế hoạch. Trước sự phản kích của đối phương, trận đánh trở nên ác liệt và ông Trần Phú Cương hy sinh tại trận địa.
Ở căn nhà chỉ cách nơi giao tranh khoảng 100m, bà Út chưa biết rằng người vừa chia cho mình nửa quả táo ít giờ trước đã không còn.
Tin dữ đến sau đó, nhưng ngay cả khi biết chồng hy sinh, bà vẫn chưa được phép sống như một người vợ vừa mất chồng.
Điều bà Út nhớ rõ nhất về ngày mùng một Tết năm ấy là khoảnh khắc nhìn thấy thi thể chồng được đưa qua khu vực gần căn nhà của gia đình. Bà đứng phía trong, giữa bên ngoài là rất đông người tụ tập, và chỉ cần bước ra khỏi cửa, bà có thể nhận ông Cương, có thể gọi tên chồng hoặc ít nhất nhìn ông lần cuối ở khoảng cách gần hơn.
Nhưng giữa đám đông, bà nhận ra một người đàn ông lạ có biểu hiện theo dõi, ánh mắt liên tục quan sát căn nhà và những người xung quanh. Sau những năm sống trong vùng bị kiểm soát, bà hiểu ngay việc thi thể những chiến sĩ được đưa qua có thể không đơn giản chỉ là để người dân nhìn thấy. Nếu thân nhân bước ra nhận, từ mối quan hệ ấy đối phương có thể lần ngược lại cơ sở.
“Tôi nhận ra chồng ngay, nhưng nhìn thấy có người đứng quan sát xung quanh nên hiểu mình tuyệt đối không thể bước ra. Nếu để họ biết người hy sinh có liên quan đến căn nhà này thì cơ sở sẽ bị lộ”, bà kể.
Sự lựa chọn càng trở nên khắc nghiệt bởi ngay dưới căn nhà khi ấy còn hai chiến sĩ biệt động vừa rút khỏi trận đánh đang ẩn náu, trong khi năm đứa con nhỏ của bà cũng ở bên trong. Nếu thân phận của người hy sinh được xác nhận là chủ nhân căn nhà này, những người dưới hầm có thể bị phát hiện và cả gia đình bà cũng khó tránh khỏi nguy hiểm.
Bà Út vì thế không bước ra.

5 đứa con là tài sản lớn nhất chồng bà để lại.
“Nhìn thấy chồng bị đưa đi mà mình phải đứng yên thì đau lắm, nhưng lúc ấy tôi không được để lộ bất kỳ biểu hiện nào khiến người ta nghi ngờ”, bà kể.
Thi thể ông Cương được đưa đi, còn người vợ trở vào nhà và tiếp tục giữ nhịp sinh hoạt như trước, bởi công việc quan trọng nhất lúc ấy chưa phải lo tang chồng mà là bảo vệ những người còn sống. Bà nấu cơm, tìm cách tiếp tế xuống hầm cho hai chiến sĩ, chăm các con và giữ mọi biểu hiện bên ngoài thật tự nhiên trong lúc các toán lính vẫn truy tìm những cơ sở có liên quan đến lực lượng biệt động.
Suốt cả ngày, bà không khóc được. Chỉ đến tối, khi đường phố đã vắng hơn, các con ngủ và không còn ai có thể quan sát những gì diễn ra bên trong căn nhà, bà mới ngồi một mình.
“Ban ngày tôi vẫn phải lo cho các con và hai người dưới hầm như chưa có chuyện gì. Đến tối, khi mọi thứ đã yên và chỉ còn một mình, tôi mới khóc”, bà nói.
Bà không nhớ mình đã khóc trong bao lâu, chỉ nhớ căn nhà sau một ngày bỗng trở nên khác hẳn. Buổi tối hôm trước, người chồng còn hiện diện trong căn nhà ấy cùng vợ con. Đến tối hôm sau, ông đã không còn, còn bà phải chờ đến khi không ai nhìn thấy mới được khóc chồng.
Giữ lời dặn cuối cùng
Sau ngày mùng một Tết ấy, bà Út không có nhiều thời gian để sống với nỗi đau mất chồng, bởi điều trước mắt là phải tìm cách giữ an toàn cho năm đứa con và rời khỏi Sài Gòn trước khi những cuộc truy lùng, khám xét nhằm vào các cơ sở biệt động ngày càng gắt gao hơn.
Bà hiểu rằng nếu tiếp tục ở lại căn nhà trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguy hiểm không chỉ còn dành cho riêng mình mà có thể ập xuống cả những đứa trẻ vẫn chưa hiểu hết chuyện gì vừa xảy ra với cha.
“Chồng đã mất, tôi còn năm đứa con nhỏ. Khi ấy tôi chỉ nghĩ mình nhất định phải sống, bởi nếu tôi cũng xảy ra chuyện thì các con không còn biết dựa vào ai”, bà kể.

Thông tin về liệt sĩ Trần Phú Cương.
Để đưa các con ra khỏi nội đô, bà nghĩ ra một cách mà nhiều năm sau nhắc lại vẫn thấy liều lĩnh. Bà quấn vải quanh bụng, giả làm phụ nữ mang thai rồi tìm đến một trạm y tế, ôm bụng kêu đau để tránh sự chú ý của lính canh.
Đồng thời, nhờ lực lượng giao liên hỗ trợ, năm người con lần lượt được đưa ra khỏi thành phố, chia thành nhiều nhóm nhỏ để hạn chế bị theo dõi rồi về quê ngoại ở Củ Chi.
Bà Út kể lại quãng thời gian ấy không nhiều lời. Với bà, khi chồng đã mất thì chuyện quan trọng nhất chỉ còn là làm sao để các con còn mẹ, còn chỗ nương tựa và có cơ hội lớn lên. Một số người con sau đó được người thân cưu mang, có em vào trường thiếu sinh quân, những đứa trẻ phải sớm quen với cuộc sống xa mẹ trong những năm chiến tranh còn tiếp diễn.
Lời người chồng nói trước giờ xuất quân - “Em ở nhà nuôi con” - vì thế không dừng lại ở khoảnh khắc chia nửa quả táo trong đêm cuối năm. Với bà Út, đó trở thành việc phải làm trong những năm sau đó: Sống sót, giữ các con an toàn, rồi nuôi chúng trưởng thành trong hoàn cảnh gia đình đã mất đi người trụ cột.
Chiến tranh kết thúc, các con lần lượt lớn lên, nhưng trong cuộc đời bà vẫn còn một việc chưa thể khép lại, đó là tìm nơi chồng nằm xuống.
Suốt nhiều năm, gia đình dò hỏi những người từng chiến đấu cùng ông Trần Phú Cương, lần theo các thông tin về nơi chôn cất những chiến sĩ hy sinh sau trận đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn. Đến năm 1998, sau một thời gian tìm kiếm, gia đình cất bốc một phần hài cốt được cho là của ông theo chỉ dẫn của một nhà ngoại cảm.
Đưa được hài cốt về, bà mừng, nhưng trong lòng vẫn còn một khoảng lăn tăn mà nhiều năm sau bà nói rất thẳng.
“Tôi vẫn mong có kết quả ADN để khẳng định chắc chắn. Chuyện tìm người thân, theo tôi, cuối cùng vẫn cần một căn cứ khoa học rõ ràng”, bà nói.
Bởi vậy, khi Nhà nước triển khai chương trình xác định danh tính liệt sĩ bằng ADN, gia đình bà đăng ký tham gia. Với người vợ đã mất gần ba thập kỷ mới tìm được phần hài cốt được cho là của chồng, một kết quả khoa học không chỉ để trả lời câu hỏi người đang nằm trong phần mộ ấy có đúng là ông Cương hay không, mà còn là cách khép lại hành trình đã đeo đẳng gia đình từ mùa xuân năm 1968.

Bằng Tổ Quốc ghi công của liệt sĩ Trần Phú Cương.
Ở tuổi ngoài 90, bà Út vẫn giữ thói quen đọc báo, theo dõi tin tức và đặc biệt chú ý đến những thông tin về việc tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính các liệt sĩ. Những ngày gần đây, khi báo chí liên tục thông tin về công tác tìm kiếm hài cốt tại Công viên Lê Thị Riêng, bà vẫn dõi theo từng câu chuyện.
“Chiến tranh qua đã rất lâu nhưng Nhà nước vẫn tiếp tục tìm kiếm, xác định danh tính những người đã hy sinh. Với những gia đình như chúng tôi, điều đó rất đáng quý”, bà nói.












