45 năm lịch sử và thành tựu của GHPGVN: Nhìn lại để bước tới
Bốn mươi lăm năm là một khoảng thời gian không dài nếu đặt trong hơn hai nghìn năm Phật giáo đồng hành cùng dân tộc. Nhưng đối với một đời người, 45 năm là cả một chặng đường dài.
Đối với những người đã có nhân duyên tham gia tiến trình vận động thống nhất Phật giáo và chứng kiến sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981 thì con số ấy càng mang một ý nghĩa đặc biệt.
Đối với cá nhân tôi, từ những năm tháng tham gia Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh đến Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam năm 1980 và Đại hội đại biểu Thống nhất Phật giáo cả nước tại chùa Quán Sứ, Hà Nội vào tháng 11 năm 1981, tôi đã có duyên chứng kiến và đồng hành với chư tôn đức vào một giai đoạn đặc biệt của lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại.
Bốn mươi lăm năm đã đi qua, nhiều bậc tôn túc của Giáo hội nay đã trở thành người thiên cổ. Nhìn lại, chúng ta càng ý thức rằng Giáo hội hôm nay là thành quả của trí tuệ, tâm huyết, sự nhẫn nại và trên hết là khả năng vượt qua những khác biệt để cùng hướng đến tương lai của Phật giáo Việt Nam. Tôi xin chia sẻ một số điều sau đây:
Từ một sự kiện lịch sử đến bài học về hòa hợp
Một trong những giá trị căn bản làm nên sự kiện năm 1981 chính là tinh thần hòa hợp. Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam không xóa bỏ những truyền thống, hệ phái và pháp môn mà đưa tất cả cùng gặp nhau trong một mái nhà chung. Vì thống nhất không phải là đồng nhất, hòa hợp không có nghĩa là xóa bỏ khác biệt.
Hòa hợp chân chính là biết tôn trọng những khác biệt chính đáng nhưng không để khác biệt trở thành nguyên nhân của chia rẽ; biết giữ gìn truyền thống của mình nhưng đồng thời biết cùng nhau phụng sự những giá trị lớn hơn.
Đó cũng là tinh thần của Tăng-già từ thời Đức Phật: cùng sống trong Chánh pháp, tôn trọng giới luật, thực hành lục hòa và hướng về lý tưởng giác ngộ, giải thoát.
Bởi vậy, sau 45 năm, điều quan trọng không chỉ là Giáo hội đã phát triển đến đâu mà còn là chúng ta đã gìn giữ và trao truyền được bao nhiêu tinh thần hòa hợp của thế hệ năm 1981 cho hôm nay và mai sau.

Đại biểu các Giáo hội, Hội, hệ phái Phật giáo tham gia đóng góp ý kiến xây dựng soạn thảo Hiến chương GHPGVN trong Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hà Nội từ ngày 4 đến 7-11-1981
Thành tựu lớn nhất vẫn là con người
Trong 45 năm qua, Giáo hội đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực tổ chức, giáo dục, nghiên cứu, hoằng pháp, văn hóa, đối ngoại, từ thiện và an sinh xã hội. Nhưng nếu tìm một thước đo có ý nghĩa lâu dài thì chúng ta cần trở về với con người.
Đạo Phật tồn tại không phải trước hết bằng những công trình lớn mà bằng những con người sống được với Chánh pháp. Một vị Tăng hay Ni có giới hạnh, có tri thức và có khả năng hướng dẫn con người vượt qua khổ đau chính là một ngôi chùa sống động. Một người Phật tử hiểu đạo, sống thiện lành và có trách nhiệm với cộng đồng chính là Chánh pháp hiện diện giữa cuộc đời.
Vì vậy, giáo dục và đào tạo Tăng tài phải là một trong những nền tảng quyết định chiều sâu của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta cần những thế hệ Tăng Ni vừa có nền tảng Giới – Định – Tuệ vừa có năng lực nghiên cứu, ngoại ngữ, công nghệ và khả năng đối thoại với tri thức thời đại.
Nhưng dù giáo dục phát triển đến đâu, một điều không thể đánh mất: Học Phật cuối cùng vẫn là để tu và tu là để chuyển hóa con người.
Bước vào thời đại công nghệ số
Thế giới hôm nay rất khác năm 1981. Công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách con người học tập, giao tiếp, tiếp nhận thông tin và hiểu về chính mình.
Vấn đề vì thế không còn là Phật giáo có sử dụng công nghệ hay không, mà là Phật giáo sử dụng công nghệ như thế nào để công nghệ phục vụ con người mà không làm con người xa rời chính mình.
Chúng ta cần chuyển đổi số, cần trí tuệ nhân tạo và những phương tiện truyền thông mới, nhưng Phật giáo không thể chỉ chạy theo tốc độ của công nghệ.
Giữa một thế giới ngày càng nhanh, Phật giáo giúp con người biết dừng lại. Giữa một thế giới quá nhiều thông tin, Phật giáo giúp con người có chánh kiến. Và giữa một thời đại mà máy móc ngày càng thông minh, Phật giáo càng phải giúp con người nuôi lớn từ bi và trí tuệ.
Từ “phát triển” đến “phát triển có chiều sâu”
Bước vào giai đoạn mới, Giáo hội cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và chiều sâu của sự phát triển.
Phát triển không chỉ là có thêm bao nhiêu cơ sở mà còn là mỗi cơ sở Phật giáo đóng góp được gì cho đời sống tâm linh và đạo đức của cộng đồng.
Bước vào giai đoạn mới, Giáo hội cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và chiều sâu của sự phát triển.
Phát triển không chỉ là có thêm bao nhiêu cơ sở mà còn là mỗi cơ sở Phật giáo đóng góp được gì cho đời sống tâm linh và đạo đức của cộng đồng.
Giáo dục không chỉ là có thêm bao nhiêu người tốt nghiệp mà còn là đào tạo được bao nhiêu Tăng Ni thực sự có giới hạnh, năng lực và lý tưởng phụng sự.
Hoằng pháp không chỉ là có bao nhiêu người nghe mà còn là giáo pháp đã giúp được bao nhiêu người chuyển hóa khổ đau.
Hội nhập quốc tế cũng không chỉ là Phật giáo Việt Nam hiện diện tại bao nhiêu diễn đàn mà quan trọng hơn là Phật giáo Việt Nam có thể đóng góp điều gì cho Phật giáo và cộng đồng thế giới.
Đó là sự chuyển dịch từ phát triển về lượng sang phát triển có chiều sâu.
Viện Nghiên cứu Phật học VN và trách nhiệm đối với tương lai
Là cơ quan nghiên cứu của Giáo hội, Viện Nghiên cứu Phật học VN ý thức rằng nghiên cứu Phật học không thể chỉ dừng lại trên những trang sách mà phải góp phần gìn giữ di sản của tiền nhân, xây dựng nền tảng học thuật cho hiện tại và chuẩn bị hành trang trí tuệ cho tương lai.
Trong đó, một Phật sự đặc biệt quan trọng mà Giáo hội giao phó chính là từng bước xây dựng và hoàn thiện Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam.
Trong hai nhiệm kỳ vừa qua, với sự chỉ đạo của Trung ương Giáo hội, sự đóng góp của các trung tâm dịch thuật, chư tôn đức, các dịch giả, Viện đã đạt được những thành quả quan trọng: năm bộ Nikāya gồm Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ; Luật tạng Theravāda; bộ Bản duyên; bộ Niết-bàn và bộ Pháp hoa đã được tập thành, phiên dịch, hiệu đính hoặc từng bước hoàn thiện trong hệ thống Thánh điển Phật giáo Việt Nam. Đây không chỉ là những công trình dịch thuật, mà đó là nền tảng kinh điển phục vụ tu học, giảng dạy, nghiên cứu và hoằng truyền Chánh pháp cho nhiều thế hệ.
Công trình ấy vẫn còn tiếp tục. Các bộ Luật của Đại chúng bộ, Pháp tạng bộ, Hóa địa bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ, bộ Bát-nhã, bộ Đại bửu tích… và các bộ Luận của Theravāda và Phật giáo Đại thừa cũng đang tiếp tục phiên dịch, biên tập và xuất bản trong thời gian tới. Chắc chắn rằng, trong nhiệm kỳ tới Viện sẽ tiếp tục bổ sung những phần còn thiếu, tiếp tục phiên dịch, hiệu đính, chuẩn hóa thuật ngữ, phiên dịch và chú giải để từng bước hoàn thiện Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam như một di sản chung của Phật giáo nước nhà.
Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng Viện mà là một Phật sự trí tuệ có ý nghĩa lâu dài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cần sự chung tay của chư tôn đức, các học giả, dịch giả, nhà nghiên cứu và các thế hệ Tăng Ni có năng lực chuyên môn.

Hôm nay, chúng ta được thừa hưởng thành quả ấy. Nhưng thừa hưởng một di sản không có nghĩa chỉ là gìn giữ nguyên trạng. Cách tốt nhất để tri ân tiền nhân là làm cho những giá trị mà tiền nhân trao lại tiếp tục sống được trong hoàn cảnh mới
Bốn mươi lăm năm - Nhìn lại để bước tới
Bốn mươi lăm năm trước, các bậc tiền bối đã đặt nền móng cho một Giáo hội thống nhất. Hôm nay, chúng ta được thừa hưởng thành quả ấy. Nhưng thừa hưởng một di sản không có nghĩa chỉ là gìn giữ nguyên trạng. Cách tốt nhất để tri ân tiền nhân là làm cho những giá trị mà tiền nhân trao lại tiếp tục sống được trong hoàn cảnh mới.
Có những điều phải giữ thật chắc chắn: Chánh pháp, giới luật, tinh thần hòa hợp, bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam và lý tưởng phụng sự con người. Cũng có những điều cần mạnh dạn đổi mới: quản trị, giáo dục, nghiên cứu, hoằng pháp, truyền thông và phương thức tương tác với xã hội trong thời đại số.
Nếu năm 1981, câu hỏi lớn của thế hệ tiền bối là làm thế nào để các tổ chức và hệ phái cùng xây dựng một Giáo hội thống nhất thì năm 2026, câu hỏi của chúng ta là: làm thế nào để mái nhà chung ấy không chỉ ngày càng lớn hơn mà còn vững chắc hơn, có chiều sâu hơn và đủ trí tuệ để đồng hành cùng dân tộc trong một thời đại đang biến đổi nhanh chóng.
(Tựa của GN)
Hòa thượng Thích Giác Toàn
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN
