50 triệu khách, 90 tỉ USD:Khách tăng nhanh, giá trị tăng đến đâu?
Khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng đông, nhưng số tiền họ để lại vẫn chưa tương xứng với tiềm năng điểm đến. Khi mục tiêu đến năm 2030 được nâng lên 45-50 triệu lượt khách quốc tế và tổng thu 80-90 tỉ USD, du lịch Việt Nam buộc phải bước ra khỏi cuộc đua số lượng để đi vào cuộc cạnh tranh về giá trị.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 263/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỉ USD và đóng góp trực tiếp khoảng 10-12% GDP.

Ảnh minh hoạ. Ảnh: Khánh Mạnh
Du lịch Việt Nam cũng được kỳ vọng đứng trong nhóm 1-3 Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Tám nhóm nhiệm vụ được xác định, từ hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, thị trường và sản phẩm giá trị cao đến xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng nhân lực, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới quản trị điểm đến.
Mỗi du khách thực sự mang lại bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế Việt Nam?
Tám tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón khoảng 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Đây là tốc độ phục hồi và tăng trưởng đáng ghi nhận, tạo cơ sở để ngành du lịch hướng tới những mục tiêu cao hơn.
Nhưng đằng sau đường biểu diễn đi lên của lượng khách là một câu hỏi chưa thể né tránh: Mỗi du khách thực sự mang lại bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế Việt Nam?
Mức thu bình quân từ một khách quốc tế đến Việt Nam hiện được tổng hợp khoảng 718 USD, trong khi một lượt khách Việt Nam ra nước ngoài chi khoảng 2.200 USD. Khoảng cách hơn ba lần cho thấy chúng ta có thể đang thắng trong cuộc đua thu hút người đến nhưng chưa thắng trong cuộc đua giữ khách ở lâu và tạo cơ hội để họ chi tiêu.
Một triệu khách lưu trú ngắn, chủ yếu tham quan các điểm miễn phí và sử dụng dịch vụ giá thấp chưa chắc tạo ra hiệu quả bằng một lượng khách nhỏ hơn nhưng ở lâu, mua nhiều sản phẩm địa phương và sẵn sàng trả tiền cho trải nghiệm chất lượng. Nếu chỉ lấy số lượt người qua cửa khẩu làm thước đo thành công, ngành du lịch rất dễ rơi vào “bẫy đông mà rẻ”.
Đông khách nhưng hạ tầng quá tải, rác thải tăng, di tích chịu thêm sức ép, người dân địa phương không được hưởng lợi tương xứng thì đó chưa thể là tăng trưởng bền vững.
Không thể yêu cầu khách chi tiền khi không có gì để mua
Khách có khả năng chi tiêu cao không tự động mở hầu bao chỉ vì điểm đến đẹp hoặc khách sạn sang trọng. Họ cần những sản phẩm đủ hấp dẫn, thuận tiện và khác biệt: chương trình nghệ thuật, trải nghiệm di sản, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, mua sắm, thể thao, lễ hội, hoạt động ban đêm và những câu chuyện văn hóa được thiết kế thành sản phẩm có thể đặt mua.
Đây vẫn là khoảng trống của nhiều điểm đến. Ban ngày, du khách có thể tham quan danh lam thắng cảnh, nhưng khi đêm xuống, họ thiếu lựa chọn ngoài ăn uống, dạo phố hoặc trở về khách sạn. Nhiều sản phẩm văn hóa còn dừng ở hình thức biểu diễn theo đợt, chưa trở thành chương trình ổn định với lịch diễn, giá vé và hệ thống đặt chỗ rõ ràng.
Kinh tế đêm thường được gọi là “mỏ vàng”, nhưng vàng không tự xuất hiện chỉ bằng việc kéo dài giờ mở cửa. Một khu phố đông người chưa chắc là một hệ sinh thái du lịch đêm. Muốn khách chi tiêu, cần có nghệ thuật, giải trí, mua sắm, ẩm thực, giao thông, an ninh và không gian công cộng được tổ chức đồng bộ.
Các di sản cũng cần bước ra khỏi cách khai thác chủ yếu bằng vé tham quan. Một câu chuyện lịch sử có thể được chuyển thành chương trình trình diễn, sản phẩm thiết kế, trò chơi, phim ảnh, ấn phẩm, tour trải nghiệm hoặc quà tặng mang bản sắc địa phương.
Khi văn hóa được “đóng gói” thành sản phẩm sáng tạo, du khách không chỉ nhìn thấy Việt Nam mà còn có thể mang một phần Việt Nam về nhà.
Tiền của du khách thực sự ở lại bao nhiêu?
Tổng thu du lịch chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà nền kinh tế trong nước được hưởng. Trong khoản tiền một du khách chi trả, một phần có thể chảy về hãng hàng không nước ngoài, nền tảng đặt phòng quốc tế, chuỗi khách sạn ngoại hoặc các đơn vị thanh toán trung gian.
Vì thế, bên cạnh số lượt khách và tổng doanh thu, cần quan tâm tới “tỷ lệ giá trị ở lại”: Bao nhiêu tiền đến được với doanh nghiệp Việt, người lao động địa phương, nghệ nhân, nhà hàng, đơn vị vận chuyển, người sản xuất nông sản và các ngành công nghiệp văn hóa trong nước?
Nếu một triệu du khách, mỗi người mua thêm 100 USD hàng hóa, sản phẩm sáng tạo và đặc sản Việt Nam, giá trị tạo ra đã tương đương 100 triệu USD. Đó là hình thức xuất khẩu tại chỗ hiệu quả, trong đó hàng hóa không phải đi tìm thị trường mà thị trường đã tự tìm đến điểm đến.
Để làm được điều đó, sản phẩm địa phương phải vượt khỏi gian hàng trưng bày và những phiên chợ mang tính thời vụ. Chất lượng, thiết kế, bao bì, câu chuyện thương hiệu và phương thức thanh toán đều phải đáp ứng nhu cầu của khách quốc tế.
Mục tiêu 50 triệu khách và 90 tỉ USD là một khát vọng lớn. Nhưng phép tính quan trọng không chỉ là cần thêm bao nhiêu người đến, mà là mỗi người sẽ ở thêm bao nhiêu đêm, mua thêm sản phẩm gì và bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nước.
Du lịch Việt Nam không thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn bằng cách tiếp tục bán cảnh đẹp với giá rẻ. Muốn giàu từ du lịch, trước hết phải làm cho trải nghiệm Việt Nam trở nên đáng giá.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/du-lich/khach-tang-nhanh-gia-tri-tang-den-dau-263990.html
