Ai đang tạo ra không gian đô thị?

Quy hoạch không chỉ quyết định sẽ xây dựng gì trên một khu đất mà còn quyết định những khả năng nào của đời sống sẽ được mở ra hoặc khép lại. Vậy nên bên cạnh câu hỏi “sẽ xây dựng gì trên khu đất này?” cần đặt thêm câu hỏi “sau khi xây xong, cư dân còn có thể làm gì với nơi này?”.

Hiện có một nghịch lý trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam là nền kinh tế vẫn có một số lượng rất lớn các đơn vị kinh tế nhỏ gắn với hộ gia đình, cửa hàng, dịch vụ và sinh kế tại chỗ đang vận hành nhưng không gian để những hoạt động ấy tự tạo lập và phát triển lại ngày càng bị thu hẹp. Điều này đặt ra một câu hỏi không chỉ về kinh tế mà về chính cách thành phố được hình thành: Ai đang tạo ra không gian đô thị? Và sau khi không gian ấy được tạo ra, ai còn có quyền quyết định mình có thể sống và làm gì trong đó?

Hai cách hình thành đô thị

Có hai cách khác nhau để một khu phố hình thành. Một, bắt đầu từ đời sống: một hộ gia đình dùng nơi ở mở cửa hàng, làm dịch vụ, sản xuất hoặc buôn bán. Nhiều hộ làm như vậy, dần hình thành mặt phố, ngõ phố, chợ và những mạng lưới sinh kế đan xen. Hai, bắt đầu từ việc tổ chức không gian: đất được tập hợp, hạ tầng được đầu tư, chức năng được phân khu, công trình được xây dựng và sau đó cư dân đến ở, làm việc và sử dụng không gian đã được tạo sẵn.

Kinh tế hộ với không gian nhà mặt tiền phố chưa thể thành quá khứ của đô thị Việt Nam. Nguồn: TTCH

Trong cách thứ nhất, H1 (viết tắt của kinh tế hộ) tạo phố từ đời sống. H2 (viết tắt của kinh tế họ và cộng đồng) là mạng lưới họ hàng, cộng đồng, làng nghề giữ vai trò cấp dòng hàng hóa cho H1. H1 không bắt đầu bằng một dự án mà là cách một con phố có thể hình thành có thể không cần được thiết kế hoàn chỉnh ngay từ đầu, Phố cổ Hà Nội hay quận 1, TP.HCM (cũ) đều mang cấu trúc này.

Cách thứ hai, H3 (viết tắt của kinh tế hãng) vận hành theo logic khác. H3 có khả năng tổ chức trước một không gian lớn rồi đưa các hoạt động kinh tế và cư trú vào đó. Bởi H3 có khả năng huy động vốn, tập hợp đất, tổ chức hạ tầng, xây dựng công trình và đưa một lượng lớn không gian vào sử dụng trong một thời gian tương đối ngắn. Nên H3 không chỉ là một thành phần kinh tế có quy mô vốn lớn hơn H1 mà còn có một năng lực từng hộ riêng lẻ không có, là tổ chức trước không gian để sau đó các hoạt động kinh tế và đời sống sẽ diễn ra.

Jane Jacobs (Mỹ, 1961) nhấn mạnh rằng sức sống đô thị gắn với sự sử dụng hỗn hợp, các ô phố nhỏ, sự đa dạng của công trình và mật độ người. Những yếu tố ấy không chỉ tạo ra hình thái vật chất. Chúng tạo điều kiện cho nhiều hoạt động khác nhau cùng tồn tại. Vì vậy điều quan trọng không phải là “tự phát” hay “được quy hoạch” mà là không gian có để chỗ cho nhiều chủ thể (H1) cùng tham gia tạo ra đời sống hay không? Điều này quan trọng vì tái phát triển đất đồng thời là tái cấu trúc sinh kế thì cuối cùng nó cũng là tái cấu trúc cách con người cư trú.

Rốt cuộc vẫn cần nhấn mạnh một khác biệt ít được nói đến là H1, H2 và H3 không chỉ khác nhau về quy mô kinh tế. Chúng còn khác nhau về năng lực tạo lập không gian. Một hộ gia đình tạo ra thành phố bằng từng quyết định nhỏ. Một doanh nghiệp có thể tạo ra cả một khu phố bằng một quyết định lớn. Sự mất cân bằng ấy chính là điểm bắt đầu của câu chuyện này.

Tòa chung cư cũ 42 Nguyễn Huệ khiến nhiều du khách nước ngoài chọn làm điểm check-in cho chuyến đi của họ đến TP.HCM bởi kiến trúc hoài cổ độc đáo, dấu ấn của một không gian đô thị đang dần biến mất. Ảnh: Dương Lan

Từ năng lực tổ chức đến quyền quyết định không gian

Khác biệt lớn nhất giữa H1 và H3 không đơn giản là H3 có nhiều tiền hơn mà là H3 có thể tập trung những quyền quyết định vốn bị phân tán.

Một hộ gia đình có thể quyết định xây thêm một tầng, mở cửa hàng, đổi công năng tầng trệt hoặc cải tạo mặt tiền. Nhưng quyền quyết định ấy thường chỉ nằm trong phạm vi một căn nhà hoặc một thửa đất vài chục mét vuông. Khi một doanh nghiệp hay một nhóm nhà đầu tư tập hợp được hàng chục, hàng trăm thửa đất thành một dự án thống nhất, điều thay đổi không chỉ là diện tích sở hữu, mà còn do họ đã gom những quyền quyết định nhỏ trước kia rải ra giữa rất nhiều chủ thể, như đường đi ở đâu, khối nhà đặt ở đâu, mật độ bao nhiêu, tầng trệt dùng làm gì, chỗ nào là thương mại, chỗ nào là nhà ở, mặt tiền dài bao nhiêu và cư dân có thể thay đổi công trình đến mức nào.

Henri Lefebvre (Pháp, 1974) cho rằng không gian không phải một cái nền trung tính có sẵn mà được “sản xuất” (tạo ra/xây dựng) thông qua các quan hệ xã hội, kinh tế và quyền lực. Nhìn từ đó, việc gom đất không chỉ là một giao dịch bất động sản - nó là một quá trình tái tổ chức quyền tạo lập không gian. H3 không chỉ xây công trình, nó định hình cả “sân chơi” mà các hộ và hoạt động kinh tế khác sẽ phải vận hành bên trong.

Phố ở Halle (Đức), mặt tiền chia nhỏ cho các hộ kinh doanh. Nguồn: T.T.CH

Theo O’Flaherty (Mỹ, 1994) vì lợi ích của các hộ sở hữu đất khác nhau nên việc tập hợp đất khiến quá trình này khó khăn (số vụ khiếu kiện đất đai thường rất lớn, dai dẳng). Nhưng khi quá trình ấy thành công, một chủ thể chuyển từ sở hữu những mảnh đất riêng lẻ sang khả năng tổ chức chúng như một không gian thống nhất. Đó là một lợi thế cấu trúc giúp H3 không chỉ nhiều vốn hơn mà còn có một tiếng nói duy nhất ở nơi trước kia có hàng trăm tiếng nói.

Lợi thế ấy còn được nuôi bởi chính logic của đất đai. Harvey Molotch (Mỹ, 1976) tác giả khái niệm “cỗ máy tăng trưởng” (growth machine), phân tích cách các lợi ích gắn với đất có động lực thúc đẩy những thay đổi làm tăng cường độ sử dụng đất và giá trị của địa điểm. David Harvey (Anh, 1982) nhìn quá trình này từ dòng vận động của vốn - là vốn được đưa vào đất đai, hạ tầng và công trình, được “cố định” vào không gian vật chất, rồi tạo điều kiện cho những vòng đầu tư tiếp theo. Có thể hình dung theo một chuỗi đơn giản: đất, hạ tầng, công trình, khả năng sử dụng mới, giá trị mới, đầu tư mới.

Vì vậy khi H3 gom đất, câu hỏi không chỉ là ai sở hữu đất mà “ai có quyền quyết định những khả năng nào sẽ được phép tồn tại trên mảnh đất ấy”? Vâng, đất đô thị hóa chắc chắn tăng giá nhưng giá đất tăng có đồng nghĩa với việc cơ hội sinh kế của cư dân cũng tăng theo hay không là việc khác.

Cùng diện tích nhưng khác khả năng tạo sinh kế

Câu trả lời cho câu hỏi trên là: không nhất thiết. Một dự án lớn có thể làm giá trị đất tăng rất nhanh nhưng vẫn có thể không chừa chỗ cho những hoạt động sinh kế nhỏ mà các hộ vốn tự tạo ra. H3 khi ấy có nhiều vốn hơn, công trình lớn hơn, lập vùng giá đất cao hơn nhưng chưa chắc sẽ có nhiều điểm sinh kế hơn cho cư dân.

“Một thành phố được quản trị tốt là thành phố biết đếm cả những sinh kế nhỏ không xuất hiện trong bảng giá đất”. Ảnh: Phạm Thị Kim Oanh

Thử hình dung một ô phố 100 x 100m, tức một héc-ta (đây chỉ là một phép so sánh giả định để minh họa, không phải số liệu đo đạc). Nếu ô đất ấy được chia thành các nhà liên kế mặt tiền khoảng 4m, cao vài tầng, quanh ô phố có thể có chừng một trăm căn. Tức 100 chủ hộ có thể tự quyết định mở cửa hàng, làm dịch vụ hoặc dùng tầng trệt theo nhu cầu của mình. Còn nếu cũng ô đất ấy được xây thành một khối chung cư cao tầng, số người ở có thể gấp nhiều lần, nhưng quyền quyết định lại thu về một chủ thể. Là khối đế hoạt động thương mại của tòa chung cư được quy hoạch thống nhất, chia thành bao nhiêu mặt bằng, cho ai thuê, giá thuê, thường đều do chủ đầu tư định đoạt.

Hai hình thái cư trú có thể chứa số dân rất khác nhau nhưng điều đáng quan tâm không chỉ là bao nhiêu người được ở mà còn là bao nhiêu điểm kinh doanh độc lập có thể hình thành, ai có quyền mở chúng và người dân có đủ khả năng tiếp cận chúng hay không? Một mặt tiền nhà phố chưa chắc là một cửa hàng đang hoạt động, nhưng nó là một khả năng mà cư dân được tự quyết định. Còn một mặt bằng ở khối đế chung cư thì thường được quyết định từ trước, bởi người khác.

Dòng hàng hóa của các làng vùng ven vẫn không ngừng vào phố. Nguồn: TTCH

Mật độ cư trú, vì thế không đồng nghĩa với mật độ sinh kế. Khi đất được tái phát triển, thứ được tái cấu trúc không chỉ là hình thái đô thị mà còn là việc làm và sinh kế. Điều này đặc biệt quan trọng ở Việt Nam, nơi H1 và H2 chưa phải là “kinh tế của quá khứ”. Hiện có một dòng tư duy cho rằng khi doanh nghiệp lớn và các dự án quy mô lớn phát triển, kinh tế hộ và kinh tế làng xã sẽ dần không còn cần thiết. Thực tế lại chưa cho phép giả định như vậy.

Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ghi nhận cả nước có 5.254.952 cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể, bên cạnh 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO Thụy Sĩ, 2024), năm 2021 khu vực hộ kinh doanh sử dụng khoảng 8,49 triệu lao động và cùng với các hình thức kinh doanh cá thể đóng góp khoảng 30% GDP.

Các nhóm thống kê này tuy không hoàn toàn đồng nhất với H1 nhưng về cấu trúc, chúng cho thấy một nền kinh tế có số lượng rất lớn đơn vị nhỏ hoạt động song song với khu vực doanh nghiệp, tạo việc làm quy mô nhỏ, linh hoạt và phân tán. Vì vậy khi H3 tổ chức lại không gian, điều cần tính không chỉ là bao nhiêu giá trị đất được tạo thêm mà còn là bao nhiêu sinh kế nhỏ được tạo ra, bao nhiêu sinh kế cũ biến mất và những người mất chỗ kinh doanh có tìm được vị trí mới trong cấu trúc kinh tế mới hay không? 

Kinh tế nhỏ có còn cơ hội?   

Trong bài viết này tôi không đặt vấn đề có nên phát triển các đô thị lớn do H3 tạo ra hay không. H3 là một động lực không thể thiếu của đô thị hiện đại: hạ tầng lớn, giao thông, nhà ở quy mô lớn, bệnh viện, trường đại học, công nghệ và nhiều dịch vụ hiện đại đều cần năng lực tổ chức của H3. Ngược lại, một đô thị chỉ dựa vào H1 và H2 cũng không thể đáp ứng yêu cầu về hạ tầng và quy mô của thành phố hiện đại.

Khu Borneo - Spornburg thuộc Amsterdam Hà Lan  hoàn thành năm 2000 được thiết kế, xây dựng theo mô hình nhà liên kế. Nguồn: West 8

Vấn đề, vì thế không phải là chọn H1 hay H3. Một đô thị hiện đại cần năng lực tổ chức quy mô lớn của H3 nhưng cũng cần những không gian để H1 tiếp tục tạo sinh kế và H2 duy trì các mạng lưới cộng đồng, nghề nghiệp. Quy hoạch không chỉ quyết định sẽ xây dựng gì trên một khu đất mà còn quyết định những khả năng nào của đời sống sẽ được mở ra hoặc khép lại sau khi xây dựng hoàn tất.

Vậy nên, bên cạnh câu hỏi quen thuộc “sẽ xây dựng gì trên khu đất này?”, cần đặt thêm một câu hỏi: “sau khi xây xong, cư dân còn có thể làm gì với nơi này?” Họ có thể mở một cửa hàng không? Có thể thay đổi tầng trệt không? Có thể đưa một nghề mới vào khu phố không? Nếu mọi câu trả lời đã được quyết định trước bởi một hệ thống không gian quá cứng thì cư dân dù có sở hữu căn hộ vẫn chỉ là người sử dụng một không gian đã được tạo lập bởi người khác. Tức quyền sở hữu không đồng nghĩa với quyền tạo lập nơi chốn.

Đó là điểm cần suy nghĩ lại về quyền trong phát triển đô thị và nhiệm vụ trước hết của chính quyền đô thị, nơi đặt điều kiện cho mọi dự án. Rằng khi giao đất, duyệt quy hoạch hay cấp phép, chính quyền không chỉ quyết định ai được xây, xây bao nhiêu mà còn quyết định những ai sẽ còn chỗ đứng để mưu sinh trong khu đô thị ấy về sau. Một thành phố được cai quản tốt là thành phố biết đếm cả những sinh kế nhỏ không xuất hiện trong bảng giá đất.

Trong một cửa hàng chuyên bán nông sản của làng chăn nuôi (H2) cho dân đô thị  Dresden (Đức). Nguồn: T.T.CH

Martin Heidegger (Đức, 1951) trong Xây dựng, Cư trú, Suy tưởng (Building Dwelling Thinking) phân biệt việc xây dựng với việc cư trú: xây một công trình không đồng nghĩa với việc tạo ra một nơi sống, bởi ý nghĩa của xây dựng phải được nhìn từ chính hoạt động cư trú của con người. Đây cũng là lý do Rem Koolhaas (Hà Lan, 1995) cảnh báo về khủng hoảng của “đô thị phổ quát” (Generic City), nơi cấu trúc không gian có thể sao chép ở nhiều nơi khác nhau; còn Marc Augé (Pháp, 1992) gọi là “đô thị phi nơi chốn” (non-place): dùng được nhưng khó tạo nên ký ức, bản sắc dân cư và căn tính riêng. Vấn đề là khi cùng mong muốn phát triển nhưng thay thế quá nhiều cấu trúc H1 và H2 - vốn mang tri thức và tập quán sống bản địa, đô thị mới có thể lớn lên về quy mô, diện tích nhưng nghèo đi về chiều sâu văn hóa, sự khác biệt làm nên nơi chốn ấy.

Hướng đi ngược lại có thể gọi là phát triển đô thị dựa trên sự định cư liên tục, đòi hỏi các chuyển dịch căn bản. Từ xây dựng sang cư trú, từ vật thể sang chủ thể - căn hộ bàn giao là công trình, chỉ khi có người mua bán theo nhu cầu của mình thì nó mới thành nơi cư trú, rồi họ là người có quyền làm thêm, sửa đổi, sinh sống - đó là quá trình chuyển vật thể sang chủ thể. Từ đất sang nơi chốn - đất có giá, còn nơi chốn có quan hệ gia đình, hàng xóm, nghề nghiệp, ký ức. Từ việc thay thế hoàn toàn sang kế thừa - cái mới cần mang tính liên tục nơi chốn, để đời sống cũ tiếp tục sinh sôi trong cái mới.

Trở lại câu hỏi đầu bài: Ai đang tạo ra không gian đô thị? 

Không chỉ có doanh nghiệp và những người tổ chức dự án mà cư dân, các hộ kinh doanh và mạng lưới cộng đồng cũng tạo ra thành phố, dù quyền định hình hài không gian của họ thường nhỏ bé và phân tán hơn. 

Điều đáng hỏi không chỉ là ai sở hữu đất hay xây công trình, mà là sau khi không gian được tổ chức lại, những người mưu sinh từ kinh tế nhỏ (H1 và H2) còn khả năng tham gia tạo lập, điều chỉnh và duy trì đời sống đô thị hay không? 

Và sau khi xây xong, cái đô thị ấy còn cho phép con người tạo ra thêm được những không gian nào cho đời sống của chính mình? 

Trần Trung Chính

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/ai-dang-tao-ra-khong-gian-do-thi-54411.html