Ai sẽ trả hoá đơn cho logistics xanh?
Khi “xanh” dần trở thành yêu cầu nhưng chưa dễ chuyển thành mức giá cao hơn, doanh nghiệp logistics phải tìm lời giải ngay trong cách vận hành.
Khi yêu cầu “xanh” đi trước mức chi trả
“Bee Logistics không xem logistics xanh là một khoản chi phí phải gánh chịu, mà là một quá trình tái thiết kế vận hành để vừa giảm phát thải, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh”, ông Lê Trần Nhật Phương, Phó tổng giám đốc công ty CP Giao nhận vận tải Con Ong (Bee Logistics) chia sẻ với TheLEADER.
Ông Phương nhìn nhận doanh nghiệp không chuyển đổi xanh vì phong trào mà sức ép chuyển đổi ngày càng rõ hơn từ yêu cầu của khách hàng và từ chính bài toán cạnh tranh của doanh nghiệp.
Qua dữ liệu và phản hồi từ khách hàng mà Bee Logistics ghi nhận, “xanh” đã bắt đầu trở thành một tiêu chí trong quá trình lựa chọn nhà cung cấp logistics, dù mức độ khác nhau giữa từng nhóm doanh nghiệp.
Đặc biệt với các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp FDI hay nhà xuất khẩu tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bên cạnh giá cước, chất lượng dịch vụ và thời gian vận chuyển, những tiêu chí về ESG, khả năng đo lường phát thải hay lộ trình giảm carbon ngày càng được chú trọng khi lựa chọn nhà cung cấp logistics.
Tuy nhiên, yêu cầu xanh gia tăng chưa đồng nghĩa thị trường đã sẵn sàng trả thêm chi phí xanh. Bởi ngay cả khi đặt ra những yêu cầu cao hơn về giảm phát thải trong chuỗi cung ứng, khách hàng vẫn phải cân đối chi phí để duy trì khả năng cạnh tranh.
Theo quan sát của Bee Logistics, số khách hàng chấp nhận trả thêm hiện vẫn tương đối hạn chế. Khoảng cách giữa yêu cầu chuyển đổi và mức độ sẵn sàng chi trả vì thế vẫn còn khá lớn.

Tối ưu tải trọng, tuyến đường và hạn chế xe chạy rỗng là những dư địa giúp doanh nghiệp logistics đồng thời tiết giảm chi phí và phát thải. Ảnh: Bee Logistics
Chia sẻ “hóa đơn” chuyển đổi
Ông Phương cho biết doanh nghiệp logistics có thể chủ động đầu tư trong giai đoạn đầu để tạo lợi thế cạnh tranh, nhưng khó có thể tự gánh toàn bộ chi phí chuyển đổi trong dài hạn.
Logistics vốn là ngành có biên lợi nhuận tương đối thấp, trong khi quá trình chuyển đổi có thể kéo theo hàng loạt khoản đầu tư vào phương tiện, công nghệ, năng lượng sạch và chuyển đổi số. Nếu toàn bộ nguồn vốn đều do doanh nghiệp logistics gánh chịu thì khả năng mở rộng mô hình sẽ bị giới hạn.
Về dài hạn, cần hình thành cơ chế phân bổ hợp lý giữa những chủ thể cùng tham gia và hưởng lợi từ chuỗi cung ứng. Bởi đằng sau một container hàng xuất khẩu là cả một chuỗi gồm nhà sản xuất, chủ hàng, doanh nghiệp giao nhận, đơn vị vận tải, hãng tàu hoặc hãng hàng không, kho bãi, cảng và nhiều mắt xích liên quan.
Đặc biệt, khi khách hàng quốc tế yêu cầu các mắt xích trong chuỗi cung ứng đáp ứng mục tiêu giảm phát thải, ESG hay Net Zero để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường, chính chủ hàng cũng trở thành một trong những bên hưởng lợi trực tiếp từ quá trình chuyển đổi. Vì vậy, gợi ý được ông Phương đưa ra là cùng chia sẻ chi phí và cùng hưởng lợi.
Với khách hàng, khi đặt ra yêu cầu về dịch vụ logistics xanh, họ cũng cần chấp nhận một mức “giá xanh” hợp lý, đủ để doanh nghiệp logistics có thêm nguồn lực đầu tư.
Ở chiều ngược lại, khi thu thêm chi phí cho một dịch vụ xanh, doanh nghiệp logistics phải chứng minh khoản tiền đó thực sự được chuyển hóa thành hiệu quả thông qua tối ưu vận hành, đầu tư công nghệ, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải. “Xanh” không thể trở thành lý do để tăng giá nếu hiệu quả mang lại không tương xứng.
Các nhà cung cấp hạ tầng và tổ chức tài chính cũng là một phần của bài toán. Những mô hình như thuê mua, hợp đồng mua bán năng lượng tái tạo, tài chính xanh hay hợp tác đầu tư có thể giúp doanh nghiệp logistics giảm áp lực phải bỏ toàn bộ vốn ngay từ đầu.
Về phía Nhà nước, theo ông Phương, một khung chính sách ổn định, quy hoạch rõ ràng, thủ tục thuận lợi cùng các cơ chế tín dụng xanh có thể tạo thêm dư địa để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho chuyển đổi.
Tuy nhiên, chia sẻ chi phí mới chỉ là một phần của lời giải. Bản thân doanh nghiệp logistics cũng cần tìm cách giảm chi phí cho quá trình chuyển đổi, trước hết bằng việc khai thác hiệu quả hơn những nguồn lực sẵn có thay vì ngay lập tức đặt bài toán vào các khoản đầu tư lớn.
Giảm chi phí từ chính cách vận hành
Theo kinh nghiệm vận hành của Bee Logistics, nhiều giải pháp có thể đồng thời giảm phát thải và chi phí mà không đòi hỏi nguồn vốn quá lớn.
Đó có thể là tăng hệ số lấp đầy phương tiện, giảm xe chạy rỗng, tái định vị container rỗng, tối ưu tuyến vận chuyển, số hóa chứng từ, nâng hiệu suất sử dụng kho hay quản lý tiêu thụ năng lượng.
“Khoản đầu tư xanh tốt nhất là khoản đầu tư vừa giảm phát thải vừa nâng cao hiệu quả vận hành”, ông Phương nói.
Chẳng hạn, thay vì vận hành hai chuyến xe đều chỉ chở một phần tải trọng, doanh nghiệp có thể gom hàng để tăng hệ số lấp đầy. Cùng một lượng hàng được vận chuyển với ít chuyến xe hơn thì nhiên liệu tiêu thụ và lượng phát thải tính trên mỗi đơn vị hàng hóa cũng được giảm xuống.
Tương tự, mỗi chuyến xe quay đầu không có hàng đồng nghĩa nhiên liệu vẫn bị tiêu hao và phát thải vẫn phát sinh trong khi phương tiện không tạo ra giá trị vận chuyển. Vì vậy, tối ưu tuyến đường và kết hợp tìm kiếm đơn hàng cho chiều về có thể vừa hạn chế quãng đường chạy rỗng, vừa trực tiếp tiết giảm chi phí và phát thải.
Với những lô hàng khối lượng lớn và hành trình dài, dư địa tối ưu còn nằm ở việc lựa chọn phương thức vận chuyển phù hợp. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào đường bộ, một phần hàng hóa có thể được chuyển sang đường thủy nội địa hoặc đường sắt, qua đó vừa giảm áp lực cho vận tải đường bộ, vừa tiết kiệm chi phí nhiên liệu và giảm phát thải trên mỗi tấn hàng.
Đây chính là “vùng giao nhau” giữa hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tìm được vùng giao nhau ấy, doanh nghiệp trước hết phải biết nguồn lực của mình đang được sử dụng như thế nào.
Phương tiện đang được khai thác bao nhiêu phần tải trọng, bao nhiêu quãng đường đang chạy rỗng, nhiên liệu bị tiêu hao ở đâu hay tuyến vận chuyển nào còn có thể tối ưu đều là những câu hỏi cần dữ liệu để trả lời.
Theo ông Phương, nếu không đo lường được, doanh nghiệp sẽ khó quản lý và càng khó cải thiện. Quản lý tốt dữ liệu cho phép doanh nghiệp nhìn thấy những điểm vận hành còn lãng phí, từ đó tối ưu từng cự ly vận chuyển, từng phần không gian trên phương tiện, vừa nâng cao hiệu quả khai thác vừa giảm phát thải.
Vì vậy, với Bee Logistics, “chuyển đổi xanh trước hết là chuyển đổi về năng lực quản trị dữ liệu”.
Tại doanh nghiệp, hệ thống quản lý vận tải (TMS) được sử dụng để hỗ trợ tính toán tuyến đường, tránh các điểm ùn tắc theo thời gian thực và phân bổ điểm giao hàng. Dữ liệu vận hành đồng thời giúp doanh nghiệp giảm xe chạy rỗng, tối ưu tải trọng và lựa chọn tuyến vận chuyển phù hợp.
Hệ thống giám sát hành trình còn ghi nhận những dữ liệu như tốc độ, thời gian nổ máy chờ, phanh gấp hay tăng tốc đột ngột. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đào tạo tài xế theo hướng “lái xe sinh thái”, qua đó tiết kiệm nhiên liệu và duy trì phương tiện ở trạng thái vận hành hiệu quả hơn.
Mục tiêu cuối cùng của logistics xanh không phải là đầu tư nhiều hơn, mà là vận hành thông minh hơn. Khi doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn, khách hàng nhận được dịch vụ tốt hơn với chi phí hợp lý hơn, còn môi trường cũng được hưởng lợi. Đó mới là mô hình phát triển bền vững mà chúng tôi hướng tới.
Ông Lê Trần Nhật Phương
- Phó tổng giám đốc Bee Logistics

Với vận tải biển và hàng không, yêu cầu quản trị không còn dừng ở dữ liệu nội bộ. Đặc thù quốc tế và đa phương thức khiến doanh nghiệp phải kết nối với hãng tàu, hãng hàng không, cảng và các mắt xích khác trong chuỗi cung ứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp từng bước chuyển từ các phần mềm quản lý nội bộ riêng lẻ sang hệ thống quản lý vận tải có khả năng kết nối và trao đổi dữ liệu với các đối tác trong chuỗi cung ứng.
Khi dữ liệu từ nhận đơn hàng, đặt chỗ, vận chuyển, thủ tục hải quan, chứng từ đến kế toán được kết nối, doanh nghiệp không chỉ có khả năng theo dõi chuỗi cung ứng xuyên suốt hơn mà còn nhận diện được những điểm vận hành kém hiệu quả. Đây cũng là cơ sở để tối ưu nguồn lực và từng bước hình thành dữ liệu phục vụ đo lường phát thải.
Với Bee Logistics, chuyển đổi xanh vì thế không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc thay đổi toàn bộ phương tiện hay lập tức đầu tư những hệ thống hạ tầng tốn kém. Các khoản đầu tư lớn như xe điện, hệ thống lưu trữ điện hay điện mặt trời có thể được triển khai theo lộ trình, sau khi doanh nghiệp đã khai thác những dư địa tối ưu vận hành hiện có.
“Mục tiêu cuối cùng của logistics xanh không phải là đầu tư nhiều hơn, mà là vận hành thông minh hơn”, ông Phương nhấn mạnh.
