Vận hội mới của Quảng Ninh
Với vị thế mới, thành phố Quảng Ninh khơi thông dòng chảy kinh tế bằng tư duy quy hoạch mở và nguồn vốn chiến lược.
Dọc theo dải đất hơn 130km từ Quảng Yên đến Móng Cái, Quảng Ninh mang nhịp điệu kinh tế đa chiều. Quảng Yên vươn mình với các khu công nghiệp ven biển và bến cảng tấp nập; trong khi Móng Cái ở phía Đông Bắc giữ nhịp sống sôi động nhờ kinh tế cửa khẩu và giao thương biên giới.
Nằm ở giữa hai cực ấy là Hạ Long, đô thị di sản lấy du lịch làm nền tảng. Tiến ra biển có Vân Đồn và Cô Tô, còn lùi về phía Bắc là không gian núi non với các sinh kế đặc thù. Sự khác biệt này từ lâu đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho tỉnh, kết hợp hài hòa giữa công nghiệp than, cảng biển, du lịch và kinh tế biên mậu.
Bước ngoặt đến vào ngày 1/9/2026 khi Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố. Các cực tăng trưởng nay quy tụ trong một cấu trúc thống nhất, đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ về hạ tầng và liên kết chuỗi giá trị. Theo Phó giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Việt Hùng, mô hình này giúp tỉnh tái cấu trúc không gian, phân bổ dân cư hợp lý và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai.

Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố từ 1/9/2026. Ảnh: Hoàng Anh
Đan kết những dòng chảy kinh tế
Theo Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 được Thủ tướng phê duyệt ngày 23/6/2026, tỉnh định hướng phát triển theo mô hình đa đô thị đa trung tâm đa cực. Không gian được tổ chức thành ba hành lang gồm hành lang đô thị ven biển, hành lang biển đảo và hành lang sinh thái miền núi, cùng bốn vùng kinh tế xã hội và năm trung tâm động lực.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, quy hoạch mới phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển của Quảng Ninh. Thay vì tiếp cận theo ranh giới hành chính, tỉnh hướng tới tổ chức không gian dựa trên liên kết giữa các khu vực và các cực tăng trưởng. Định hướng này đồng thời đặt trọng tâm vào mô hình phát triển xanh, thông minh, khai thác đồng thời lợi thế về biển đảo, cửa khẩu, di sản cùng các động lực mới từ đổi mới sáng tạo.
Trên bản đồ chiến lược ấy, mỗi vùng mang một sứ mệnh cụ thể. Quảng Yên làm bệ phóng cho công nghiệp, cảng biển và logistics. Vân Đồn hướng tới mô hình kinh tế biển đảo và hàng không. Móng Cái gắn với kinh tế cửa khẩu và giao thương quốc tế. Hạ Long giữ vai trò trung tâm đô thị dịch vụ, điều phối dòng khách và kết nối kinh tế toàn vùng. Không gian Yên Tử và vịnh Hạ Long kết nối trong chuỗi giá trị về di sản văn hóa và du lịch sinh thái.
Sự thay đổi không gian ấy tạo ra những mối liên hệ thực tế giữa các cực. Sự xuất hiện của các dự án sản xuất quy mô lớn tại Quảng Yên kéo theo nhu cầu về cảng biển, logistics, kho bãi và nhà ở cho người lao động. Các khu công nghiệp Sông Khoai hay Bắc Tiền Phong gắn kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển phía Nam.
Vân Đồn chuyển mình mạnh mẽ với quy hoạch cảng hàng không quốc tế định hướng đến năm 2050 thành sân bay đa chức năng phục vụ hành khách, hàng hóa và công nghiệp hàng không với công suất khoảng 20 triệu hành khách và hai trăm nghìn tấn hàng hóa mỗi năm. Quy mô này tạo dư địa để Vân Đồn phát triển một hệ sinh thái kinh tế rộng lớn hơn du lịch thông thường.
Móng Cái đứng ở đầu phía Đông Bắc với hệ thống cửa khẩu quốc tế và thương mại biên giới tạo ra dòng hàng hóa hướng về thị trường lớn phía Bắc. Khi hệ thống giao thông được cải thiện, vị trí của Móng Cái trong mạng lưới kinh tế tỉnh được đặt lại trên một phạm vi rộng hơn.
Giữa các cực ấy, Hạ Long kết nối dòng khách, dịch vụ và hoạt động kinh tế, tạo thành chuỗi liên kết xuyên suốt từ không gian biển đảo phía Đông đến hệ thống đô thị phía Tây.
Những nhu cầu thực tế vượt qua ranh giới từng địa phương và kéo các cực lại gần nhau bằng những dòng chảy kinh tế cụ thể. Một nhà máy tại Quảng Yên cần cảng biển và logistics. Dòng lao động đổ về khu công nghiệp cần nhà ở và đô thị dịch vụ. Hàng hóa qua cảng cần tuyến kết nối với thị trường lớn. Sân bay Vân Đồn cần mạng lưới điểm đến đủ rộng để tạo dòng khách ổn định. Cửa khẩu Móng Cái cần hệ thống kho bãi và vận tải phía sau.
Giá trị tạo ra trên cùng một diện tích đất vì thế phụ thuộc ngày càng nhiều vào cách các khu vực kết nối với nhau, vị trí đặt hạ tầng và sự lưu chuyển của dòng vốn.

Khu công nghiệp Đông Mai, Quảng yên. Ảnh: Hoàng Anh
Khi bản đồ gặp dòng vốn ở Quảng Ninh
Tháng 6/2026, trong thời điểm công bố các quy hoạch chiến lược, Quảng Ninh trao quyết định đầu tư cho 18 dự án với tổng vốn gần 45 nghìn tỷ đồng. Địa phương đồng thời công bố điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, Quy hoạch chung đô thị, quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn.
Khi dòng vốn đi theo bản đồ quy hoạch, thử thách tiếp theo nằm ở khả năng biến các cực tăng trưởng thành một mạng lưới kinh tế thực thụ. Quảng Yên đang phát triển nhanh thành cực công nghiệp và logistics. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn tạo ra diện mạo mới cho khu vực phía Nam tỉnh. Các dự án công nghệ và năng lượng đưa Quảng Yên tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhu cầu về không gian sản xuất mở rộng, kéo theo hệ thống nhà xưởng, nguyên liệu, dịch vụ hậu cần và nhà ở cho người lao động.
Quy mô của hệ sinh thái này đang mở rộng nhanh. Đến tháng 5/2026, Khu công nghiệp Sông Khoai đã thu hút 25 dự án thứ cấp, toàn bộ là vốn FDI, với tổng vốn gần 3 tỷ USD và khoảng 4.400 lao động.
Với Amata, quá trình này đòi hỏi hạ tầng phải được chuẩn bị song hành với dòng vốn. Bà Somhatai Panichewa, Tổng giám đốc điều hành Amata Việt Nam cho biết, doanh nghiệp đặt mục tiêu tiếp tục thu hút khoảng 1 tỷ USD vốn đầu tư thứ cấp vào Sông Khoai trong năm 2026, đồng thời đề nghị Quảng Ninh hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tạo điều kiện đầu tư hệ thống đường điện phục vụ sản xuất.
Vị trí gắn liền với hệ thống cảng biển phía Nam và tuyến cao tốc liên vùng giúp Quảng Yên tối ưu hóa chi phí vận chuyển. Thêm vào đó, dự án tuyến đường sắt kết nối Hà Nội với Quảng Ninh được khởi công tháng 4/2026 với đoạn qua tỉnh dài gần 39km kết nối khu vực Hạ Long Xanh bổ sung một phương thức vận tải chiến lược, mở rộng khả năng kết nối của tỉnh với mạng lưới giao thông quốc gia.
Về phía Vân Đồn, định hướng phát triển gắn liền với hệ thống hạ tầng hàng không và kinh tế biển đảo. Sân bay quốc tế Vân Đồn mở rộng không gian kinh tế từ du lịch sang các hoạt động dịch vụ, logistics và công nghiệp hàng không. Hàng hóa đi cùng hành khách, logistics gắn với thương mại điện tử tạo ra một hệ sinh thái đa tầng giá trị. Ở cực Đông Bắc, Móng Cái tận dụng hệ thống giao thông kết nối tốt hơn để rút ngắn thời gian di chuyển với các trung tâm công nghiệp và cảng biển nội địa, qua đó gia tăng vai trò trong mạng lưới kinh tế tổng thể.
Sự liên kết giữa ba cực thể hiện rõ qua nhu cầu kết nối hạ tầng. Trục cao tốc ven biển dài khoảng 176km kết nối Hải Phòng, Hạ Long, Vân Đồn và Móng Cái cùng hệ thống cảng biển và sân bay tạo thành mạng lưới xuyên suốt từ Tây Nam sang Đông Bắc.
Trong tám tháng đầu năm 2026, tỉnh thu hút khoảng 1,13 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, hơn một nửa trong đó tập trung vào lĩnh vực chế biến chế tạo. Mỗi dự án sản xuất lớn kéo theo nhiều lớp nhu cầu về linh kiện, nguyên liệu, vận tải và nhân lực.

Cao tốc Hạ Long - Móng Cái. Ảnh: Hoàng Anh
Từ bản đồ phát triển đến năng lực thực thi
Một bản quy hoạch dù được tính toán kỹ lưỡng đến đâu cũng đòi hỏi một cơ chế thực thi đồng bộ để đi vào cuộc sống.
Ngay sau khi quy hoạch chung được phê duyệt, tỉnh Quảng Ninh đối mặt với khối lượng công việc khổng lồ từ việc lập khoảng 70 quy hoạch phân khu, 18 quy hoạch chung cấp xã cho đến hàng loạt quy hoạch ngành. Mỗi đồ án kéo theo những quyết định cụ thể về đất đai, hạ tầng và danh mục dự án.
Việc chuyển đổi mô hình thành phố trực thuộc Trung ương với 54 đơn vị hành chính cấp xã gồm 30 phường, 22 xã và hai đặc khu đòi hỏi phương thức quản trị linh hoạt. Không thể áp dụng cùng một mô hình quản lý cho một phường đô thị trung tâm, một xã miền núi hay một đặc khu biển đảo.
Các dự án công nghiệp hay hạ tầng giao thông tạo tác động vươn xa khỏi ranh giới hành chính từng địa phương, đòi hỏi cơ chế phân cấp đi đôi với phối hợp chặt chẽ. Đất công nghiệp phải tính toán đồng bộ cùng hạ tầng vận tải, đô thị mới phải song hành với dịch vụ công, còn giao thông liên vùng phải gắn kết trực tiếp với các trung tâm sản xuất.
Dữ liệu và công nghệ quản lý đô thị đóng vai trò hỗ trợ đắc lực trong tiến trình ấy của Quảng Ninh. Hệ thống thông tin địa lý và các nền tảng điều hành số giúp chính quyền theo dõi đất đai, dân cư và tiến độ dự án trên một giao diện thống nhất, đảm bảo các quyết định không gian dựa trên bức tranh toàn diện.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ cho năng lực thực thi cốt lõi. Quy hoạch tốt cần được cụ thể hóa bằng quỹ đất sạch, thủ tục thông thoáng, hạ tầng đi trước một bước và thời gian triển khai ngắn để củng cố niềm tin cho nhà đầu tư. Khoảng cách từ một vùng đất quy hoạch trên giấy đến một khu công nghiệp vận hành thực tế chính là thước đo hiệu quả của cải cách hành chính.
Quảng Ninh đặt mục tiêu tăng trưởng sản phẩm xã hội bình quân 12% mỗi năm trong giai đoạn từ năm 2026 - 2030. Để đạt được tốc độ ấy, việc thu hút vốn đầu tư chỉ là bước khởi đầu. Quan trọng hơn là năng lực chuyển hóa dòng vốn thành sản lượng thực tế, biến hạ tầng thành sức mạnh kết nối và biến quỹ đất thành giá trị kinh tế dài hạn. Chất lượng dòng vốn quyết định mức độ giữ lại giá trị gia tăng cho địa phương thông qua chuỗi cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa và chất lượng việc làm.
Quảng Ninh đang nắm giữ một không gian phát triển hoàn chỉnh từ những khu công nghiệp hướng ra biển, hệ thống cao tốc dọc tỉnh, sân bay quốc tế, các cửa khẩu biên mậu cho đến không gian đô thị, hải đảo và miền núi. Giá trị của bản đồ ấy được định đoạt bởi những dòng chảy thực tế bên ngoài nó, từ lưu lượng hàng hóa trên các tuyến đường, số lượng doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng cho đến chất lượng sống của cư dân đô thị.
Khi các mạch phát triển từng đứng độc lập nay được kết nối trong một cấu trúc thống nhất, lợi thế lớn nhất của Quảng Ninh nằm ở khả năng điều phối để dòng vốn, hàng hóa, con người và tri thức lưu thông thông suốt. Quy hoạch lúc này trở thành phương thức tổ chức nguồn lực, mở ra một chu kỳ tăng trưởng bền vững cho thành phố bên bờ di sản.

Hạ Long về đêm. Ảnh: Hoàng Anh
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/van-hoi-moi-cua-quang-ninh-d47766.html
