Âm vang trống đồng - tiếng đồng vọng qua 'chín núi, mười sông'...
Âm thanh ấy chỉ hiện lên trong trí tưởng tượng, nhưng lại khiến người ta gai người như thể đang thực sự lắng nghe. Không phải tiếng trống hội rộn ràng, cũng chẳng phải âm cồng chiêng quen thuộc của núi rừng. Đó là thứ âm thanh trầm sâu, dội vào lòng người như tiếng vọng của thời gian. Giữa không gian tĩnh lặng của Bảo tàng Hùng Vương (cơ sở 3), những chiếc trống đồng nằm im lìm. Song càng tĩnh lặng, người ta càng cảm nhận rõ một điều: chúng chưa bao giờ thực sự 'im tiếng'.

Mỗi chiếc trống đồng đang được trưng bày tại Bảo tàng Hùng Vương (cơ sở 3) đều mang trong mình một câu chuyện kể.
“Chứng nhân” của thời đại Văn Lang
Tôi đứng khá lâu trước một chiếc trống đồng đã ngả màu thời gian. Những hoa văn chằng chịt, lớp lớp như vòng xoáy lịch sử. Ở trung tâm, hình mặt trời tỏa tia vẫn như đang phát sáng - thứ ánh sáng không phải của kim loại, mà của ký ức. “Có những chiếc trống đã nằm dưới lòng đất hàng nghìn năm, nhưng khi được đưa lên, cảm giác như chúng vẫn còn “sống” - chị Đoàn Thị Nữ, cán bộ phụ trách phòng trưng bày nhẹ giọng nói khi dẫn chúng tôi đi qua không gian trưng bày những chiếc trống đồng.

“Trống đồng Chí Đạo” mang mã số HB.3687 là một trong những chiếc trống lớn có niên đại từ khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên đến thế kỷ XIV được phát hiện từ năm 1960.
Theo thống kê, hiện nay hệ thống Bảo tàng Hùng Vương đang lưu giữ 91 chiếc trống đồng. Trong đó, riêng cơ sở 3 có 78 chiếc. Một con số không chỉ gây ấn tượng về mặt số lượng, mà còn cho thấy chiều sâu của một vùng đất từng là “kho tàng” văn hóa bị vùi lấp. “Phần lớn các trống đồng này do người dân phát hiện trong quá trình đào đất, hoặc thậm chí tình cờ bắt gặp khi mở đường, làm nhà... Trong số đó, không ít trống đồng được lưu giữ tại bảo tàng là hiện vật được thu hồi từ các vụ án liên quan đến khai quật, mua bán trái phép cổ vật. Nhưng sau tất cả, chúng đã trở về đúng nơi cần thuộc về...” - chị Nguyễn Thị Hải Ly - Phó Giám đốc Bảo tàng Hùng Vương thông tin.
Nghe câu chuyện, tôi chợt nghĩ đến những nhát cuốc vô tình chạm vào lớp đồng lạnh dưới lòng đất. Một âm thanh khô khốc, nhưng lại mở ra cả một cánh cửa thời gian. Có lẽ, với người phát hiện ra chúng, đó là khoảnh khắc không thể nào quên. Mỗi chiếc trống là một câu chuyện. Có chiếc thân cao, hoa văn dày đặc; có chiếc nhỏ hơn nhưng tinh xảo đến từng chi tiết; có chiếc gần như nguyên vẹn; có chiếc mang trên mình những “vết sẹo” của thời gian. “Chúng tôi không chỉ lưu giữ, mà còn phải “đọc” được những câu chuyện ấy. Hiện nay, tất cả các trống đồng đang được bảo quản, gìn giữ tại bảo tàng đều được phát huy giá trị trong công tác sưu tầm, nghiên cứu và trưng bày” - chị Nguyễn Thị Hải Ly chia sẻ.

Mỗi chiếc trống đồng được trưng bày đều mang trong mình những hoa văn tinh tế, độc đáo gắn với biểu tượng, tín ngưỡng sâu sắc của người Việt Cổ.
Giữa hàng chục chiếc trống đang được lưu giữ, trưng bày ở Bảo tàng Hùng Vương, có những hiện vật mà hành trình của nó gắn chặt với đời sống người dân, với những phát hiện rất “đời thường”. Tiêu biểu như trống đồng Chí Đạo, được phát hiện từ tháng 8/1960 tại xã Chí Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trước đây (nay là xã Quyết Thắng, tỉnh Phú Thọ) bởi ông Bùi Văn Đức - một cán bộ đội chiếu bóng. Phải đến năm 1965, chiếc trống này mới chính thức được bàn giao cho bảo tàng để lưu giữ và trưng bày. Trống có niên đại trải dài từ thế kỷ I trước Công nguyên đến khoảng thế kỷ XIV.

Trống đồng được xem là dấu tích của một thời đại rực rỡ trong chiều dài lịch sử của dân tộc từ thời Văn Lang dựng nước.
Hay như trống đồng Phong Phú được phát hiện năm 1968 khi một đội công trình đào đất làm lò gạch tại xóm Ải, xã Phong Phú trước đây (nay là xã Mường Bi). Chiếc trống nằm ở độ sâu nửa mét như thể chỉ cần một cái chạm nhẹ là có thể đánh thức cả quá khứ. Sau nhiều năm lưu chuyển, đến năm 1991, trống được chuyển về Bảo tàng tỉnh và đang được trưng bày tại đây. Trống có niên đại từ thế kỷ I sau Công nguyên đến thế kỷ XIV.
Đặc biệt hơn cả là trống đồng Sông Đà - một trong những chiếc trống cổ, đẹp, có giá trị bậc nhất từng được phát hiện tại khu vực Hòa Bình. Theo sử liệu ghi lại, chiếc trống này được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX tại một địa điểm ven sông Đà nên người ta gọi nó là “trống sông Đà”. Trống có đường kính khoảng 78cm, cao 61cm, gần như còn nguyên vẹn. Trên mặt trống nổi bật hình ngôi sao 14 cánh ở trung tâm. Bao quanh là những vành hoa văn tinh xảo: chim bay, người múa, cảnh sinh hoạt cộng đồng. Đáng chú ý, hình ảnh những đoàn thuyền cùng người chèo, người chỉ huy cho thấy một xã hội có tổ chức, có phân công rõ ràng. Tang trống được chia thành nhiều băng hoa văn với họa tiết hình học, chim nước, thuyền bè... phản ánh thế giới sông nước đặc trưng của cư dân Việt cổ. Lưng trống lại khắc họa hình người hóa trang bằng lông chim, tay cầm vũ khí gợi liên tưởng đến những hoạt động mang tính tín ngưỡng sâu sắc. Không chỉ là hiện vật khảo cổ, trống Sông Đà còn mang trong mình một “số phận lịch sử”. Sau khi được phát hiện, chiếc trống này đã bị người Pháp đưa về nước để trưng bày, sau đó “giữ lại”. Hiện chiếc trống này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Guimet (Pháp).
“Trống sông Đà” là một trong những chiếc trống tiêu biểu nhất của loại I Heger tức trống Đông Sơn cổ nhất. Nó gần như hội tụ đầy đủ những đặc trưng về kỹ thuật và nghệ thuật của thời kỳ này” - Phó Giám đốc Bảo tàng Hùng Vương Nguyễn Thị Hải Ly chia sẻ thêm.
Dấu tích của một thời đại rực rỡ
Giáo sư sử học Lê Văn Lan từng đánh giá: Từ những chiếc trống đồng, người ta có thể hình dung ra cả một thế giới đã từng tồn tại. Đó là thế giới của cư dân nông nghiệp lúa nước, của những ngôi nhà ven sông, của những lễ hội tưng bừng và những cuộc đua thuyền náo nhiệt. Trên mặt trống, chim bay, hươu chạy, người múa... tất cả chuyển động trong một vòng tròn bất tận quanh hình mặt trời như thể mọi sự sống đều xoay quanh nguồn sáng ấy. Không chỉ là nhạc khí, trống đồng còn là biểu tượng quyền lực. Trong thời đại Văn Lang, Âu Lạc, chiếc trống gắn liền với thủ lĩnh. Trống càng lớn, hoa văn càng tinh xảo, quyền uy càng được khẳng định.

Ở vùng Hòa Bình, trống đồng không chỉ là hiện vật, mà từng là một phần của đời sống của đồng bào người Mường.
Trong suốt quá trình dài tìm hiểu, lắng nghe những câu chuyện về trống đồng, điều khiến tôi ấn tượng hơn cả lại nằm ở một góc nhìn khác. Đó là góc nhìn của người Mường. Theo các sử liệu, người Mường không phải cư dân trực tiếp chế tác, nhưng người Mường lại là những người gìn giữ trống đồng lâu dài và bền bỉ nhất. Ở vùng Hòa Bình, trống đồng không chỉ là hiện vật, mà từng là một phần của đời sống của đồng bào người Mường.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Bùi Huy Vọng, thời xưa trống đồng xuất hiện trong những nghi lễ quan trọng của người Mường như nghi lễ cầu mưa, tế lễ, tang ma... nhưng không phải ai cũng được chạm vào. Trống đồng thuộc về Lang Cun - tầng lớp quyền lực cao nhất trong xã hội Mường cổ truyền. “Khác với chiêng mang tính cộng đồng, trống đồng mang tính độc quyền. Chính vì vậy, nó trở thành biểu tượng tối cao của quyền lực” - ông Bùi Huy Vọng cho biết.

Hoa văn trên trống đồng chứa đựng ký ức của nền văn minh Việt cổ.
Theo câu chuyện kể của đồng chí Phó Giám đốc Bảo tàng và những nhà nghiên cứu văn hóa, tôi nhắm mắt hình dung một lễ cầu mưa nơi bản Mường xa xưa... Giữa một không gian linh thiêng, rộng lớn của núi rừng, tiếng trống vang lên trầm hùng như sấm, rồi dần dần nhẹ đi như mưa rơi. Con người đứng giữa đất trời, gửi gắm khát vọng mùa màng qua từng nhịp âm thanh trầm hùng của trống đồng.
Rời bảo tàng, âm thanh tưởng tượng ấy vẫn còn vang vọng trong tâm trí. Không ồn ào, không dồn dập, nhưng bền bỉ như chính cách trống đồng tồn tại qua hàng nghìn năm lịch sử từ thời đại Văn Lang cho đến nay. Trống đồng đã trở thành biểu tượng văn hóa, chứa đựng ký ức một nền văn minh, khát vọng của một dân tộc và mối liên kết sâu xa giữa con người với đất trời.
“Giữ trống đồng là giữ lại căn cốt văn hóa” - chị Hải Ly nói khi tiễn chúng tôi ra cửa.
Tôi ngoái nhìn không gian trưng bày lần cuối. Những chiếc trống vẫn nằm đó, lặng lẽ, nhưng tôi biết trong sự lặng lẽ ấy là một “bản trường ca” chưa bao giờ dứt.
Và ở đâu đó, âm vang trống đồng vẫn ngân lên giữa “chín núi, mười sông”...











