An Giang kiến tạo chuỗi giá trị xanh cho hàng xuất khẩu
An Giang đang chuyển từ tăng trưởng xuất khẩu theo sản lượng sang nâng giá trị, lấy công nghệ, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và phát triển xanh làm nền tảng nâng sức cạnh tranh.
Không chỉ hướng tới gia tăng kim ngạch, An Giang đang đặt yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thông qua phát triển vùng nguyên liệu, chế biến sâu, logistics, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc. Đây là bước chuyển cần thiết để lợi thế nông nghiệp được chuyển hóa thành giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời đáp ứng những chuẩn mực ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Từ gia tăng sản lượng đến nâng cao giá trị
Trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, xuất khẩu không còn đơn thuần là câu chuyện đưa hàng hóa ra thị trường quốc tế. Đằng sau mỗi đơn hàng là năng lực sản xuất, chất lượng vùng nguyên liệu, trình độ chế biến, khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
Đối với An Giang, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi nông nghiệp vẫn là một trong những nền tảng quan trọng của nền kinh tế. Lợi thế về lúa gạo, thủy sản, rau quả và các sản phẩm chế biến tạo ra dư địa lớn cho xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức tạo giá trị.

Tăng trưởng xuất khẩu bền vững không chỉ nằm ở kim ngạch, mà ở khả năng tạo thêm giá trị trên cùng nguồn lực, giảm lãng phí và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Theo Công văn số 3034/UBND-KT, UBND tỉnh yêu cầu tiếp tục triển khai Kế hoạch số 111/KH-UBND ngày 5/3/2026 về thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2026-2030, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xuất nhập khẩu năm 2026.
Ông Nguyễn Thanh Phong, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu thông qua phát triển vùng nguyên liệu, đẩy mạnh công nghiệp chế biến, hoàn thiện hạ tầng logistics; đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc, qua đó nâng sức cạnh tranh của hàng hóa An Giang trên thị trường quốc tế.
Đây không chỉ là yêu cầu đối với riêng ngành công thương hay doanh nghiệp xuất khẩu. Về bản chất, đó là yêu cầu tái cấu trúc cả chuỗi giá trị sản xuất.
Một nền kinh tế không thể duy trì sức cạnh tranh lâu dài nếu tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu dựa vào mở rộng sản lượng và khai thác lợi thế tài nguyên. Khi giá trị được tạo ra nhiều hơn từ công nghệ, chế biến, dữ liệu và thương hiệu, cùng một lượng nguyên liệu có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn.
Đó chính là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.
Xanh hóa chuỗi giá trị để giữ thị trường
Trong thương mại quốc tế, những rào cản mới đang ngày càng dịch chuyển từ thuế quan sang tiêu chuẩn. Chất lượng sản phẩm, nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất và khả năng chứng minh sự tuân thủ đang trở thành những điều kiện quyết định khả năng tiếp cận thị trường.
Bởi vậy, yêu cầu của An Giang về truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số cần được nhìn nhận ở tầm chiến lược.
Truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp xác định sản phẩm đến từ đâu. Quan trọng hơn, đó là công cụ để hình thành một chuỗi sản xuất minh bạch, trong đó chất lượng được kiểm soát từ vùng nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu.
Khi thị trường đặt ra yêu cầu ngày càng cao, doanh nghiệp không thể chờ đến khi hàng hóa đứng trước cửa khẩu mới bắt đầu chứng minh chất lượng. Tiêu chuẩn phải được đưa vào ngay từ khâu sản xuất.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với nông sản. Một vùng nguyên liệu được chuẩn hóa sẽ tạo tiền đề cho sản phẩm đồng nhất hơn; một quy trình sản xuất được kiểm soát tốt sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro; còn dữ liệu truy xuất đầy đủ sẽ tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế.
UBND tỉnh cũng yêu cầu tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các Hiệp định Thương mại tự do, đa dạng hóa thị trường và chủ động cập nhật các quy định, tiêu chuẩn mới của thị trường nhập khẩu.
Như vậy, “xanh” không còn là một khái niệm đứng bên ngoài hoạt động xuất khẩu. Môi trường, chất lượng và tính minh bạch đang từng bước trở thành một bộ phận cấu thành giá trị của hàng hóa.
Doanh nghiệp nào chủ động thích ứng sẽ có thêm lợi thế. Ngược lại, doanh nghiệp chậm chuyển đổi có nguy cơ mất thị trường ngay cả khi vẫn duy trì được năng lực sản xuất.

183.000 ha: Diện tích An Giang tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Liên kết vùng nguyên liệu, chế biến và logistics để tạo sức bật
Một trong những vấn đề căn bản của xuất khẩu nông sản là khoảng cách giữa nơi sản xuất nguyên liệu và nơi tạo ra giá trị cuối cùng. Nếu nguyên liệu chỉ được bán ở dạng thô, phần giá trị lớn hơn của chuỗi có thể nằm ngoài khu vực sản xuất.
Bởi vậy, phát triển công nghiệp chế biến phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với vùng nguyên liệu.
Ông Nguyễn Thanh Phong - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang yêu cầu các ngành, địa phương tập trung phát triển vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến và hạ tầng logistics, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Nếu thực hiện đồng bộ, đây sẽ là một chuỗi liên kết có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn: vùng nguyên liệu ổn định tạo đầu vào cho chế biến; chế biến nâng giá trị sản phẩm; logistics bảo đảm khả năng lưu thông; công nghệ và truy xuất tạo minh bạch; thị trường quyết định giá trị cuối cùng.
Ở góc độ kinh tế môi trường, mô hình này còn có ý nghĩa ở khả năng sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực. Tăng giá trị trên một đơn vị nguyên liệu sẽ tạo động lực để giảm lãng phí, nâng hiệu quả sản xuất và hạn chế tư duy tăng trưởng bằng cách mở rộng đơn thuần về lượng.
Đây là sự thay đổi từ chiều rộng sang chiều sâu. Cùng với đó, cải cách hành chính được tỉnh xác định là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu.
Sở Công Thương được giao chủ trì theo dõi, đôn đốc việc triển khai, tổng hợp tình hình và tham mưu UBND tỉnh các giải pháp thúc đẩy xuất nhập khẩu.
Từ những nhiệm vụ được đặt ra có thể thấy, An Giang đang đứng trước một yêu cầu lớn hơn việc hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu của một năm. Đó là xây dựng năng lực cạnh tranh cho cả một nền sản xuất.

1,251 tỷ USD: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026.
Muốn hàng hóa đi xa, trước hết chuỗi giá trị trong tỉnh phải được nâng cấp. Muốn tăng trưởng bền vững, giá trị gia tăng phải tăng nhanh hơn áp lực khai thác tài nguyên. Muốn giữ được thị trường quốc tế, tiêu chuẩn môi trường và chất lượng phải được tính đến ngay từ đầu.
Vì vậy, chiến lược xuất nhập khẩu trong giai đoạn mới cần được nhìn nhận không chỉ là chiến lược thương mại, mà còn là một bộ phận của chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Từ vùng nguyên liệu đến nhà máy, từ logistics đến thị trường, từ dữ liệu truy xuất đến tiêu chuẩn xanh, mỗi mắt xích đều phải được nâng cấp. Khi đó, xuất khẩu không chỉ tạo ra thêm kim ngạch mà còn tạo ra một nền tảng tăng trưởng có chất lượng, hiệu quả tài nguyên cao hơn và sức chống chịu tốt hơn trước những biến động của thị trường toàn cầu.
Đó cũng là con đường để An Giang chuyển từ lợi thế về sản lượng sang lợi thế về chất lượng, từ xuất khẩu nguyên liệu sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, và từ tăng trưởng dựa trên khai thác lợi thế sẵn có sang tăng trưởng dựa trên công nghệ, đổi mới và phát triển bền vững.
Những trụ cột nâng chất xuất khẩu An Giang
1,251 tỷ USD: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026.
13,86%: Mức tăng so với cùng kỳ.
46,79%: Mức thực hiện so với kế hoạch xuất khẩu cả năm.
183.000 ha: Diện tích An Giang tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
5,3 triệu tấn: Sản lượng lúa ước 6 tháng đầu năm 2026.
5 trụ cột: Vùng nguyên liệu – chế biến – logistics – chuyển đổi số – truy xuất nguồn gốc.












