Án lệ 81/2025 và triết lý 'có nợ phải trả'

Án lệ 81/2025 do GS-TS Đỗ Văn Đại đề xuất với triết lý 'có nợ phải trả', giải quyết được hai khó khăn tương đối phổ biến trong thực tiễn xét xử tại tòa án cũng như tại trọng tài.

TAND Tối cao vừa công bố 10 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua. Trong đó, có Án lệ số 81/2025 về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản.

Nguồn án lệ dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 13/2022/KDTM-GĐT ngày 12-12-2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” giữa nguyên đơn là công ty M với bị đơn là công ty A.

 Hình minh họa.

Hình minh họa.

Nội dung vụ án được chọn làm án lệ

Theo công ty M, ngày 1-7-2012, công ty M và công ty A đã ký hợp đồng dịch vụ. Theo đó, công ty M sẽ cử các chuyên gia kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến việc sản xuất bột giấy của công ty A.

Sau khi hoàn thành công việc, công ty M đã phát hành tổng cộng 6 hóa đơn thương mại. Ngày 1-6-2013, công ty A gửi văn bản tới công ty M xác nhận rằng sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho công ty M.

Công ty M đã liên tục yêu cầu công ty A thanh toán. Tuy nhiên, công ty A chưa thực hiện bất kỳ khoản thanh toán nào đối với phí và chi phí theo hợp đồng dịch vụ, cụ thể là hơn 26 triệu Yên Nhật tại các hóa đơn thương mại.

Vì vậy, công ty M khởi kiện đề nghị buộc công ty A thanh toán tiền và tiền lãi chậm trả với số tiền tương đương hơn 8,7 tỉ đồng Việt Nam.

Công ty A thì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện nên đề nghị áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án.

Ngày 30-11-2019, TAND tỉnh Tuyên Quang ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại giữa công ty M với công ty A.

Công ty M kháng cáo. Ngày 6-5-2020, TAND Cấp cao tại Hà Nội không chấp nhận kháng cáo của công ty M; giữ nguyên quyết định đình chỉ.

Công ty M có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 23-12-2021, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị theo hướng hủy các quyết định; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Tuyên Quang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Sau đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị này.

Nhận định của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao

Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng công ty M đã phát hành 6 hóa đơn thương mại đối với phí dịch vụ phải trả. Công ty A có nghĩa vụ thanh toán hóa đơn cuối cùng trước ngày 31-3-2013.

Ngày 1-6-2013, công ty A có công văn do Phó Tổng Giám đốc công ty A ký khẳng định lại việc sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho công ty M.

Như vậy, các bên đã có thỏa thuận chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và công ty A đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại và tiền lãi chậm trả. Vì vậy, các bên không tranh chấp hợp đồng nữa nên việc công ty M khởi kiện đề nghị công ty A phải thanh toán khoản tiền nêu trên phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” là không đúng.

Theo khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 thì trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá không đầy đủ, chính xác các tình tiết nêu trên của vụ án nên chấp nhận đề nghị của công ty A về việc áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015. Từ đó, áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.

Án lệ 81/2025 giải quyết được 2 vấn đề

Án lệ số 81/2025 giải quyết được hai khó khăn tương đối phổ biến trong thực tiễn xét xử tại tòa án cũng như tại trọng tài.

Án lệ 81/2025 do GS-TS. Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM đề xuất. Ảnh: UL

Thứ nhất, pháp luật hiện hành phân biệt quan hệ thương mại và quan hệ dân sự với hệ quả là quan hệ thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại và quan hệ dân sự chịu sự điều chỉnh bởi BLDS. Trong khi hai đạo luật này thường có nội dung khác nhau.

Tuy nhiên, trong thực tế, thường xuyên gặp trường hợp ban đầu quan hệ giữa các bên là quan hệ thương mại như hợp đồng dịch vụ thương mại nhưng sau đó, các bên chấm dứt quan hệ thương mại và một bên thừa nhận phải trả cho bên còn lại khoản tiền nợ gốc và tiền lãi. Vậy tranh chấp về đòi tiền (gốc và lãi đã được người có nghĩa vụ thừa nhận sau khi chấm dứt hợp đồng thương mại) là tranh chấp dân sự hay tranh chấp thương mại?

Tranh chấp như trên khá phổ biến và những người làm thực tiễn thường rất lúng túng và không hiếm trường hợp TAND Tối cao đã hủy án của địa phương trong việc xác định bản chất quan hệ có tranh chấp để từ đó xác định pháp luật điều chỉnh tương ứng. Án lệ số 81/2025 giúp tháo gỡ khó khăn này vì đã theo hướng việc xác định quan hệ pháp luật có “tranh chấp về kinh doanh thương mại” là “không đúng” mà đây phải là “tranh chấp dân sự”.

Với hướng trên, quan hệ thương mại ban đầu không còn tồn tại nữa và quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự (quan hệ thương mại chấm dứt và được thay thế bởi quan hệ dân sự mới). Từ đó, hệ quả là không áp dụng các quy định của Luật Thương mại (và văn bản hướng dẫn) mà áp dụng các quy định trong BLDS (và văn bản hướng dẫn).

Chẳng hạn, khi xem xét tính lãi trong trường hợp chậm trả tiền (mà một bên đã thừa nhận sau khi chấm dứt hợp đồng thương mại), chúng ta không áp dụng mức lãi suất theo Luật Thương mại mà áp dụng mức lãi suất theo BLDS với hệ quả rất khác nhau về cách tính mức lãi và khoản tiền lãi phát sinh.

Án lệ số 81/2025 được hình thành xuất phát từ hợp đồng dịch vụ thương mại. Tuy nhiên, hướng tương tự cũng nên được áp dụng cho hoàn cảnh tương tự phát sinh từ hợp đồng thương mại khác như từ hợp đồng mua bán khi có việc chấm dứt hợp đồng và bên mua thừa nhận phải trả cho người bán tiền (nợ gốc, tiền lãi).

Thứ hai là BLDS 2015 (kế thừa Bộ luật trước đây) có hai quy định thường xuyên khó phân định trong việc áp dụng. Đó là quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng, được quy định tại Điều 429 với thời hạn 3 năm và quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện, được quy định tại khoản 2 Điều 155 khi đó là “Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu”.

Đối với trường hợp có tranh chấp về đòi tiền sau khi một bên thừa nhận trả tiền (gốc, lãi) cho bên kia của hợp đồng, thực tiễn khá lúng túng trong việc áp dụng một trong hai quy định trên trong khi đó hệ quả rất khác nhau.

Án lệ số 81/ 2025 giúp xử lý được lúng túng nêu trên. Cụ thể, án lệ theo hướng đây là tranh chấp “về đòi lại tài sản” nên “trường hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện” theo khoản 2 Điều 155 BLDS 2015. Lúc này, không có giới hạn về thời gian trong việc đòi tiền.

Thực tế, tôi đề xuất án lệ này nhằm loại bỏ khó khăn nêu trên là dựa trên triết lý “có nợ phải trả”, không thể viện dẫn thời gian đã trôi qua để thoái thác trách nhiệm trả nợ. Hướng như vậy cũng phù hợp với “lẽ công bằng” được quy định tại Điều 6 BLDS 2015.

Án lệ số 81/2025 được hình thành xuất phát từ hợp đồng dịch vụ thương mại. Tuy nhiên, hướng tương tự cũng nên được áp dụng cho hoàn cảnh tương tự phát sinh từ hợp đồng thương mại khác hay hợp đồng dân sự khác như từ hợp đồng mua bán thương mại hay mua bán dân sự.

Ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng có thể nghĩ tới áp dụng đường lối của Án lệ số 81/2025 cho cả quan hệ ngoài hợp đồng khi một bên trong quan hệ ngoài hợp đồng đó thừa nhận phải trả cho bên kia một khoản tiền và sau đó có tranh chấp về đòi khoản tiền đã thừa nhận. Ở đây, triết lý “có nợ phải trả” nên tiếp tục được duy trì và mở rộng phạm vi áp dụng.

GS-TS ĐỖ VĂN ĐẠI, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM

YẾN CHÂU

Nguồn PLO: https://plo.vn/video/an-le-812025-va-triet-ly-co-no-phai-tra-post895339.html