Áp dụng chỉ số KPI đánh giá thu hút và thực hiện ưu đãi FDI
Việt Nam sẽ không cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bằng mọi giá hay thuần túy dựa trên số lượng, thay vào đó là kiến tạo một hệ sinh thái đầu tư chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ với nội lực nền kinh tế…

Ảnh minh họa. Nguồn: VnEconomy.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong 5 năm qua.
Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu đang chậm lại do các biến động địa chính trị và chính sách thuế quan của Hoa Kỳ.
“KIỀNG BA CHÂN” CHO NỀN KINH TẾ BỨT PHÁ
Phát biểu tại tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” sáng ngày 8/10, ông Trần Quốc Phương, Thứ trưởng Bộ Tài chính, cho biết, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong quý 3/2026 và 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt tương ứng 9,95% và 9,01%, mức cao nhất trong nhiều năm qua.
Con số thu hút FDI ấn tượng trong 9 tháng đã nâng tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Việt Nam thu hút được trong gần 40 năm qua lên trên 570 tỷ USD. Dòng vốn này cũng đang cải thiện đáng kể về chất, với nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Trần Quốc Phương cũng thẳng thắn nhìn nhận những điểm nghẽn trong thu hút FDI hiện nay. Dù mang lại nhiều đóng góp to lớn, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng vốn FDI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Đặc biệt, sự liên kết giữa khu vực trong nước và khu vực FDI còn nhiều hạn chế; hoạt động chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa đạt kỳ vọng; tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn ở mức thấp.
Do đó, Thứ trưởng khẳng định Nghị quyết số 10-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bước ngoặt thay đổi toàn diện phương thức thu hút FDI: Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá, không thu hút FDI để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao năng lực công nghệ và sức cạnh tranh.
Thứ trưởng cũng nhấn mạnh tầm nhìn chiến lược về thế “kiềng ba chân” vững chắc cho nền kinh tế bứt phá: sự kết hợp giữa Nghị quyết số 10-NQ/TW (về kinh tế có vốn FDI), Nghị quyết 68-NQ/TW (về kinh tế tư nhân) và Nghị quyết số 79-NQ/TW (về kinh tế nhà nước). Sự phát triển đồng bộ của cả ba khu vực này sẽ tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng 2 con số trong chu kỳ 2026-2030.
“Những nỗ lực cải thiện thể chế, cùng với việc thị trường chứng khoán Việt Nam mới đây được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp, sẽ là tiền đề quan trọng để huy động các nguồn lực quốc tế trong thời gian tới”, Thứ trưởng Trần Quốc Phương nhận định.
“LUỒNG XANH” CHO CÔNG NGHỆ VÀ CƠ CHẾ HẬU KIỂM NGHIÊM NGẶT
Dưới góc độ của cơ quan trực tiếp quản lý và thực thi chính sách, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, đã trình bày chi tiết về lộ trình hiện thực hóa các định hướng chiến lược từ Nghị quyết 10-NQ/TW và Kế hoạch hành động tại Nghị quyết 280/NQ-CP của Chính phủ.

Ông Trần Quốc Phương, Thứ trưởng Bộ Tài chính, chia sẻ tại tọa đàm.
Bà Thủy chỉ rõ dù Việt Nam đã thu hút trên 571 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 48.100 dự án còn hiệu lực, nhưng tỷ lệ nội địa hóa vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực (chỉ đạt khoảng 20-25%). Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu gia công đơn giản, trong khi chuyển giao tài sản sở hữu trí tuệ từ khối FDI chỉ chiếm 13% tổng số các hoạt động chuyển giao.
Để khắc phục triệt để tình trạng này, Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra tiêu chí hàng đầu trong lựa chọn nhà đầu tư là chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Các dự án công nghệ cao, R&D, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh sẽ được ưu tiên tuyệt đối.
Nhằm thể chế hóa quan điểm này, Bộ Tài chính đang nghiên cứu báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư. Theo bà Thủy, dự thảo Luật quy định rõ mức ưu đãi mà doanh nghiệp FDI được hưởng sẽ phụ thuộc vào mức độ đáp ứng các tiêu chí công nghệ và cam kết liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, cơ chế “hậu kiểm” sẽ được thiết lập chặt chẽ: nhà đầu tư phải báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm và nếu không thực hiện đúng cam kết đã đăng ký, các ưu đãi đầu tư sẽ bị thu hồi.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 280/NQ-CP yêu cầu một sự thay đổi sâu sắc trong tư duy quản lý; đó là chấm dứt tư duy cạnh tranh thu hút đầu tư chủ yếu bằng số lượng dự án, quy mô vốn hay ưu đãi dàn trải, chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển và đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án.
Để xây dựng hệ sinh thái đủ sức hấp thụ dòng vốn chất lượng cao, đại diện Cục Đầu tư nước ngoài nhấn mạnh 4 điều kiện cốt lõi cần chuẩn bị:
Một là thể chế.Không chỉ cần đồng bộ mà phải nhanh và thuận lợi. Dự thảo Luật Đầu tư mới dự kiến mở rộng “luồng xanh” và thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án công nghệ chiến lược (bao gồm cả dự án nằm ngoài Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao).
Hai là hạ tầng chiến lược. Điều này đòi hỏi sự sẵn sàng của hạ tầng số (5G, cơ sở dữ liệu) và nguồn năng lượng sạch, ổn định (điện gió, điện mặt trời), bên cạnh hạ tầng giao thông truyền thống.
Ba là chất lượng nguồn nhân lực.Dự thảo Luật bổ sung các cơ chế đột phá, vượt trội để khuyến khích chính các tập đoàn FDI chiến lược thực hiện R&D và trực tiếp đào tạo nhân lực lao động Việt Nam, nhằm đưa Việt Nam trở thành “mắt xích sáng tạo” thay vì chỉ là công xưởng gia công.
Bốn là năng lực doanh nghiệp trong nước. Bộ Tài chính đang đề xuất các cơ chế ưu đãi vượt trội để khuyến khích doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ. Đồng thời, trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 182/2024/NĐ-CP về Quỹ hỗ trợ đầu tư, nhằm cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt đối với các doanh nghiệp FDI có cam kết chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng nội địa.
Đáng chú ý, để đảm bảo tính thực thi nghiêm minh và đo lường hiệu quả, Cục Đầu tư nước ngoài đã hoàn thiện bộ chỉ số KPI đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết. Hệ thống KPI này đã được đưa lên Hệ thống theo dõi các Nghị quyết của Trung ương do Văn phòng Trung ương quản lý, cấp tài khoản tự động cho các Bộ, ngành và địa phương để cập nhật tiến độ hàng tháng, hàng quý.
