Áp lực lạm phát trở lại đẩy các ngân hàng trung ương vào thế khó
Với các ngân hàng trung ương, điều quan trọng là mức độ tác động và đặc biệt là liệu kỳ vọng lạm phát có được giữ ổn định hay không.
Chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel nhằm vào Iran đang đe dọa giáng đòn mạnh vào kinh tế toàn cầu, vốn vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau đợt tăng thuế lịch sử do Tổng thống Donald Trump công bố hồi tháng 4/2025.
Với châu Âu, giá năng lượng duy trì ở mức cao có thể đẩy nền kinh tế tới sát bờ suy thoái. Tại Mỹ, điều này đặt Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) vào thế khó xử: một bên là cuộc xung đột khiến lạm phát tăng cao, bên kia là sức ép từ Nhà Trắng yêu cầu hạ lãi suất. Còn với Trung Quốc, việc không còn được mua dầu Iran giá rẻ sẽ càng làm gia tăng áp lực từ thuế quan của Tổng thống Trump và cuộc khủng hoảng bất động sản trong nước.
Những ngày đầu xung đột cho thấy cường độ giao tranh rất lớn và cục diện cuối cùng vẫn chưa rõ ràng. Dĩ nhiên, vẫn có khả năng Mỹ và Iran tìm được lối thoát ngoại giao, giá dầu quay lại mức trung bình 65 USD/thùng như trước khi xung đột leo thang, và kinh tế toàn cầu tránh được cú sốc lớn. Tuy nhiên, các tín hiệu gần đây cho thấy tình hình có thể tồi tệ hơn. Nhà máy lọc dầu lớn nhất của Saudi Arabia (A-rập-xê-út) phải đóng cửa. Qatar (Ca-ta) tạm ngừng hoạt động cơ sở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới. Hoạt động vận tải thương mại qua eo biển Hormuz gần như tê liệt. Giá dầu và khí đốt đã tăng vọt, thị trường chứng khoán lao dốc, lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên khi giới đầu tư giảm đặt cược vào khả năng Fed cắt giảm lãi suất.
Kịch bản giá dầu tăng vọt và cú sốc từ eo biển Hormuz

Tàu chiến của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran được triển khai tại Vịnh Persian, gần Bushehr, Iran. Ảnh: THX/TTXVN
Trong kịch bản nghiêm trọng, Bloomberg Economics giả định rằng với việc ông Trump cảnh báo về làn sóng hoạt động quân sự quy mô lớn, còn Iran tin rằng có thể cầm cự lâu hơn, giao tranh sẽ kéo dài. Các hoạt động quân sự tăng cường của Iran có thể khiến các nhà máy lọc dầu, cảng biển bốc cháy hoặc làm tê liệt đường ống, khiến sản xuất năng lượng đình trệ.
Mỹ có thể tăng cường hệ thống phòng không để bảo vệ tàu chở dầu qua eo biển, bên cạnh các tàu hộ tống hải quân và cam kết bảo hiểm mà ông Trump đưa ra hôm 4/3. Tuy nhiên, rủi ro vẫn ở mức cao. Chỉ cần vài đợt tấn công bằng máy bay không người lái cũng có thể khiến tuyến vận tải này tiếp tục bị phong tỏa.
Khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu đi qua eo biển Hormuz. Dựa trên các nghiên cứu học thuật và kinh nghiệm từ những lần gián đoạn nguồn cung trước đây, Bloomberg Economics ước tính cứ mỗi 1% nguồn cung bị sụt giảm sẽ khiến giá dầu thô tăng khoảng 4%. Theo đó, nếu eo biển bị đóng cửa kéo dài, giá dầu có thể tăng 80% so với trước chiến sự, lên khoảng 108 USD/thùng. Trong kịch bản nghiêm trọng, mức giá này có thể duy trì tới quý IV/2026.
Nếu hạ tầng năng lượng tại Vịnh Ba Tư bị phá hủy nghiêm trọng hoặc thị trường phản ứng thái quá, giá có thể tăng mạnh hơn nữa. Ngược lại, nếu thiệt hại hạn chế hoặc xung đột sớm chấm dứt, giá sẽ tăng ít hơn hoặc chỉ tăng trong thời gian ngắn. Giá dầu tăng cao ảnh hưởng tới kinh tế qua nhiều kênh. Chi phí tiêu dùng và sản xuất tăng, làm giảm sức mua và kéo giảm tăng trưởng. Đồng thời, lạm phát gia tăng khi giá vận tải và các sản phẩm hóa dầu leo thang.
Thế tiến thoái lưỡng nan của các ngân hàng trung ương

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tại Washington DC. Ảnh: Kyodo/TTXVN
Với các ngân hàng trung ương, điều quan trọng là mức độ tác động và đặc biệt là liệu kỳ vọng lạm phát có được giữ ổn định hay không.
Nếu kỳ vọng lạm phát vẫn được neo giữ, Chủ tịch Fed Jerome Powell, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde và các người đồng cấp có thể bỏ qua tác động tạm thời tới lạm phát để tập trung vào rủi ro tăng trưởng, qua đó có thể tiếp tục cắt giảm lãi suất. Ngược lại, nếu người lao động đòi tăng lương và doanh nghiệp nâng giá bán, tạo vòng xoáy lạm phát, họ có thể buộc phải tăng lãi suất.
Tại Mỹ, cuộc cách mạng dầu đá phiến đã làm thay đổi tác động của cú sốc năng lượng. Người tiêu dùng thiệt hại vì giá xăng tăng, nhưng nhà sản xuất hưởng lợi, khiến tác động ròng tới tăng trưởng gần như bằng 0. Tuy nhiên, với lạm phát thì khác. Theo mô hình SHOK của Bloomberg Economics (công cụ mô phỏng tác động của các cú sốc kinh tế), nếu giá dầu ở mức 108 USD/thùng, lạm phát Mỹ có thể tăng thêm khoảng 0,8 điểm phần trăm vào cuối năm, vượt mốc 3% và cao hơn đáng kể so với mục tiêu 2% của Fed. Ít nhất, điều này sẽ khiến Fed thận trọng trước khi tiếp tục hạ lãi suất. Nếu kỳ vọng lạm phát mất neo, áp lực tăng lãi suất sẽ lớn hơn. Ông Kevin Warsh, người được ông Trump đề cử làm Chủ tịch Fed, có thể rơi vào thế khó khi Nhà Trắng muốn hạ lãi suất, trong khi diễn biến chiến sự lại đòi hỏi điều ngược lại. Mặt khác, ông Trump cũng đối mặt rủi ro chính trị. Lạm phát cao và chiến tranh ở nước ngoài đều không được cử tri Mỹ ưa chuộng, nhất là khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đang đến gần.
Với Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) và Vương quốc Anh, tác động tới tăng trưởng rõ ràng hơn. Không có nhiều nhà sản xuất năng lượng lớn để hưởng lợi từ giá dầu tăng, họ chịu tác động tiêu cực mạnh hơn tới Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Châu Âu cũng phụ thuộc nhiều vào khí đốt tự nhiên, vốn tăng mạnh khi nguồn cung từ Qatar bị gián đoạn.
Bloomberg Economics ước tính cú sốc năng lượng có thể làm GDP của Eurozone giảm 0,6% và Anh giảm 0,5%. Lạm phát tại hai nền kinh tế này có thể tăng thêm khoảng 1,1 điểm phần trăm. Nếu kỳ vọng lạm phát tăng, ECB và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) có thể phải trì hoãn cắt giảm lãi suất hoặc thậm chí tăng lãi suất.
Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lớn. Iran và Venezuela chiếm tỷ trọng đáng kể trong nguồn cung dầu của nước này. Nếu phải mua ở mức 108 USD/thùng, lạm phát của Trung Quốc có thể tăng thêm 0,8 điểm phần trăm, trong khi tăng trưởng tiếp tục chịu sức ép từ thuế quan của Mỹ và khủng hoảng bất động sản kéo dài.
Ở kịch bản ít nghiêm trọng hơn, giao tranh tiếp diễn nhưng không có thêm hoạt động quân sự lớn nhằm vào hạ tầng năng lượng hoặc phong tỏa kéo dài eo biển Hormuz. Giá dầu dao động quanh 80 USD/thùng, kỳ vọng lạm phát vẫn được kiểm soát. Khi đó, lạm phát chỉ tăng nhẹ và tăng trưởng chỉ bị ảnh hưởng hạn chế. Trong kịch bản tích cực nhất, Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn, gián đoạn được tháo gỡ, giá dầu quay về 65 USD/thùng. Lạm phát tiếp tục hạ nhiệt, các ngân hàng trung ương duy trì lộ trình chính sách và rủi ro với kinh tế toàn cầu suy giảm.
Đây không phải lần đầu các biến động địa chính trị tại Trung Đông làm rung chuyển thị trường năng lượng và kinh tế toàn cầu. Năm 1973, lệnh cấm vận của các nước Arab khiến giá dầu tăng vọt. Năm 1979, cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran lại đẩy giá dầu lên cao. Tại Mỹ, lạm phát khi đó lên mức hai chữ số, buộc Fed dưới thời cựu Chủ tịch Paul Volcker phải thắt chặt mạnh cung tiền, kéo theo thất nghiệp gần 11% và kinh tế rơi vào suy thoái.
Hiện nay, cấu trúc kinh tế toàn cầu đã thay đổi. Tỷ trọng dịch vụ cao hơn, mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản lượng giảm, nguồn cung đa dạng hơn và năng lượng tái tạo phát triển mạnh. Một cú sốc tương tự thập niên 1970 khó lặp lại. Dù vậy, chiến sự tại Iran đã đẩy giá dầu và khí đốt tăng mạnh. Nếu xung đột kéo dài, tác động đối với tăng trưởng toàn cầu, lạm phát và chính sách tiền tệ sẽ rất đáng kể và nghiêm trọng.













