Áp lực 'mạch nước ngầm' vùng trồng rau ven biển Nghệ An

Phía sau những vùng chuyên canh rau màu cho giá trị kinh tế cao ở ven biển Nghệ An là hàng nghìn giếng khoan ngày đêm khai thác nước ngầm dưới lòng đất. Khi sản xuất vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn nước ngầm, áp lực lên tài nguyên nước ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một hướng phát triển nông nghiệp bền vững.

Dưới mỗi cánh đồng là hàng trăm giếng khoan

Cánh đồng chuyên canh rau của xã Quỳnh Anh. Ảnh: P.V

Cánh đồng chuyên canh rau của xã Quỳnh Anh. Ảnh: P.V

Giữa cánh đồng rau ở xã Quỳnh Anh, tiếng máy bơm nước vang lên liên tục giữa cái nắng gay gắt của mùa Hè. Cứ khoảng 5 phút, ông Hoàng Văn Nghĩa lại phải khóa một vòi tưới để chuyển sang chiếc giếng khoan khác. Không phải để tiết kiệm điện, mà bởi mỗi giếng giờ chỉ còn đủ nước tưới cho từng luống rau nhỏ. "Nếu như trước đây một giếng có thể tưới cùng lúc hai đến ba luống thì nay phải thay phiên nhiều giếng mới đủ nước", ông Nghĩa cho biết. Đó cũng là thực trạng chung tại nhiều vùng chuyên canh rau ven biển Nghệ An hiện nay.

Những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích rau màu ở các địa phương ven biển không ngừng được mở rộng. Rau màu mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần so với trồng lúa, trở thành nguồn thu nhập chính của hàng nghìn hộ dân. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển ấy là nhu cầu nước tưới ngày càng lớn. Trong khi hạ tầng thủy lợi phục vụ cây trồng cạn chưa được đầu tư đồng bộ, nước ngầm dưới lòng đất trở thành nguồn cung cấp gần như duy nhất cho sản xuất.

Tại xã Quỳnh Anh, hầu hết các hộ trồng rau đều có từ hai đến ba giếng đào hoặc giếng khoan. Khi lưu lượng nước giảm, người dân lại tiếp tục khoan thêm giếng mới. "Chi phí để khoan một giếng mất khoảng 3 triệu đồng. Mỗi khi giếng này cạn nguồn, hết nước thì lại phải khoan giếng khác", bà Hồ Thị Tuyết chia sẻ.

Mỗi ruộng rau có từ 2 đến 3 giếng khoan, giếng đào để phục vụ tưới cho cây trồng. Ảnh: P.V

Mỗi ruộng rau có từ 2 đến 3 giếng khoan, giếng đào để phục vụ tưới cho cây trồng. Ảnh: P.V

Theo nhiều hộ dân, vài năm trở lại đây, lượng nước trong các giếng khoan không còn dồi dào như trước. Để đủ nước tưới, nhiều gia đình phải sử dụng luân phiên nhiều giếng trong cùng một thời điểm. Không chỉ ở Quỳnh Anh, tình trạng này cũng diễn ra phổ biến tại các vùng chuyên canh rau ven biển khác.

Theo ông Chu Văn Toàn, Trưởng thôn Hồng Phong, xã Đức Châu, toàn thôn hiện có khoảng 400-500 giếng khoan phục vụ sản xuất. Riêng một hợp tác xã trên địa bàn đã thống kê có khoảng 1.000 giếng khoan của các hộ dân. Có thể nói, dưới những cánh đồng rau xanh mướt hôm nay là cả một "ma trận" giếng khoan đang ngày đêm khai thác nước dưới lòng đất.

Áp lực không chỉ đến từ những chiếc giếng

Mỗi ngày, nông dân tưới nước khoảng 5 lần cho cây hành hoa. Ảnh: P.V

Mỗi ngày, nông dân tưới nước khoảng 5 lần cho cây hành hoa. Ảnh: P.V

Nhìn ở góc độ quản lý tài nguyên, điều đáng lo không chỉ là số lượng giếng khoan ngày càng tăng, mà là tổng lượng nước được khai thác mỗi ngày từ hàng nghìn giếng hoạt động đồng thời. Theo ông Nguyễn Công Lực - Trưởng phòng Khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, khai thác nước dưới lòng đất quá mức có thể dẫn đến suy giảm trữ lượng nước ngầm, gây sụt lún nền đất và làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các khu vực ven biển.

Thực tế, nguy cơ này đã được tỉnh Nghệ An nhận diện từ nhiều năm trước. Năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1646/QĐ-UBND phê duyệt Danh mục và Bản đồ phân vùng hạn chế, vùng đăng ký khai thác nước dưới lòng đất trên địa bàn tỉnh. Theo đó, toàn tỉnh có 1.219 vùng hạn chế khai thác, trong đó 96 vùng thuộc khu vực ven biển có nguy cơ nhiễm mặn, đồng thời xác định nhiều khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất nhằm tăng cường công tác quản lý.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế vẫn còn khá lớn. Trong khi nhiều khu vực đã được khoanh vùng hạn chế khai thác, số lượng giếng khoan tại các vùng chuyên canh rau vẫn tiếp tục gia tăng. Điều đáng nói là người dân không phải không nhận thức được những hệ lụy của việc khai thác nước ngầm, mà bởi họ gần như không có sự lựa chọn nào khác.

"Chúng tôi biết khoan nhiều giếng sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước dưới đất, nhưng nếu không có nước thì không thể sản xuất được", ông Chu Văn Toàn thẳng thắn chia sẻ.

Có thể thấy, nguyên nhân sâu xa của tình trạng khai thác nước ngầm không nằm ở ý thức của người dân, mà xuất phát từ sự thiếu hụt nguồn nước thay thế.

Nút thắt về hạ tầng thủy lợi

Ở nhiều địa phương ven biển Nghệ An, hệ thống thủy lợi được đầu tư chủ yếu phục vụ sản xuất lúa. Trong khi đó, cây rau màu có nhu cầu nước tưới lớn nhưng hệ thống cấp nước lại chưa được đầu tư tương xứng. Gia đình bà Hồ Thị Thắm ở xã Quỳnh Anh có gần 5 sào chuyên canh rau màu. Toàn bộ diện tích đều sử dụng nước từ giếng khoan và giếng đào. "Nếu không có nước giếng thì không thể sản xuất rau màu", bà Thắm cho biết.

Theo ông Trần Văn Tình - Phòng Kinh tế UBND xã Quỳnh Anh, để giảm phụ thuộc vào nước ngầm, cần đầu tư hệ thống kênh dẫn đưa nguồn nước mặt đến các vùng sản xuất. Đây cũng là mong muốn của nhiều hộ dân. Bởi trên thực tế, việc chuyển đổi từ trồng lúa sang rau màu đã giúp nâng cao giá trị sản xuất trên cùng đơn vị diện tích. Nhưng nếu hạ tầng thủy lợi không theo kịp quá trình chuyển đổi đó, người dân vẫn sẽ phải tiếp tục dựa vào các giếng khoan để duy trì sinh kế. Nói cách khác, muốn giảm khai thác nước ngầm thì trước hết phải giải được bài toán nguồn nước tưới.

Theo ông Nguyễn Trường Thành - Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Nghệ An, thời gian tới ngành sẽ phối hợp với các địa phương rà soát nhu cầu cấp nước tại các vùng chuyên canh để xây dựng kế hoạch đầu tư hệ thống thủy lợi. Từ khi hệ thống thủy lợi Bắc được nâng cấp, lưu lượng nước từ Bara Đô Lương tăng lên sẽ tạo điều kiện mở rộng khả năng cấp nước mặt cho nhiều vùng sản xuất, từng bước thay thế nguồn nước ngầm dưới đất. Đây được xem là giải pháp căn cơ nhằm giảm áp lực lên nguồn nước ngầm trong dài hạn.

Tuy nhiên, đầu tư hạ tầng thủy lợi là quá trình cần nguồn lực lớn và không thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Vì vậy, cùng với việc đầu tư các công trình cấp nước, các địa phương cần tăng cường quản lý hoạt động khai thác nước ngầm dưới lòng đất; kiểm soát việc khoan giếng mới tại các khu vực hạn chế khai thác; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng nước tiết kiệm và áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Nguồn nước ngầm được hút từ giếng khoan lên để phục vụ tưới cho cây rau màu. Ảnh: P.V

Nguồn nước ngầm được hút từ giếng khoan lên để phục vụ tưới cho cây rau màu. Ảnh: P.V

Những cánh đồng rau ven biển đang tạo việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hiệu quả hơn. Song sự phát triển ấy sẽ khó bền vững nếu tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước ngầm dưới đất đang dần cạn kiệt.

Phát triển nông nghiệp không thể đánh đổi bằng sự suy giảm của tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, đầu tư hệ thống thủy lợi cho cây trồng cạn, từng bước thay thế nước ngầm bằng nước mặt, cùng với quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác nước dưới đất, không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài để bảo đảm sự phát triển bền vững của các vùng chuyên canh rau ven biển Nghệ An trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng.

Thúy Vinh

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/ap-luc-mach-nuoc-ngam-vung-trong-rau-ven-bien-nghe-an-10344531.html