'Ba chuyển dịch lớn' mở ra tư duy phát triển văn hóa mới
Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách TP. Hải Phòng NGUYỄN THỊ VIỆT NGA nhấn mạnh: 'ba chuyển dịch lớn' Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm quán triệt tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam thể hiện bước phát triển đột phá trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò và phương thức phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.
"Ba chuyển dịch lớn" tạo đột phá trong tư duy phát triển văn hóa
- Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã quán triệt thêm “ba chuyển dịch lớn”: chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo. Đại biểu suy nghĩ như thế nào về điều này?
- Theo tôi, “ba chuyển dịch lớn” thể hiện bước phát triển có tính đột phá trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò và phương thức phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về cách tiếp cận, mà là yêu cầu thay đổi căn bản từ nhận thức, xây dựng thể chế, phân bổ nguồn lực đến tổ chức thực hiện.

Ảnh: Phạm Thắng
Chuyển dịch đầu tiên có ý nghĩa bao trùm. Nếu kinh tế tạo ra sức mạnh vật chất thì văn hóa tạo nên căn cốt tinh thần, lòng tin xã hội, khả năng tập hợp và sức bền của dân tộc. Một đất nước có thể tăng trưởng nhanh, nhưng nếu đạo đức xã hội suy giảm, lối sống thực dụng gia tăng, niềm tin bị xói mòn thì sự phát triển đó khó bền vững. Vì vậy, đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho con người, cho chất lượng tăng trưởng và cho năng lực phát triển lâu dài của quốc gia.
Chuyển dịch thứ hai là yêu cầu khách quan của thời đại. Không gian số đã trở thành môi trường hình thành nhận thức, thị hiếu và lối sống, nhất là với giới trẻ. Nếu các giá trị văn hóa Việt Nam không hiện diện đủ mạnh trên không gian này, chúng ta sẽ mất lợi thế trong việc định hướng hệ giá trị và lan tỏa bản sắc văn hóa.
Chuyển dịch thứ ba giúp văn hóa và di sản thực sự sống trong đời sống đương đại. Bảo tồn là nền tảng cho sáng tạo, còn sáng tạo phải làm tăng sức sống, khả năng tiếp cận và giá trị của di sản. Tuy nhiên, sáng tạo phải dựa trên giá trị gốc, không đồng nghĩa với thương mại hóa hay làm sai lệch bản sắc.
Ba chuyển dịch này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Xác lập văn hóa là trụ cột phát triển sẽ quyết định vị trí của văn hóa trong hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực; mở rộng sang không gian số sẽ tạo môi trường phát triển mới; kết hợp bảo tồn với sáng tạo sẽ chuyển hóa vốn văn hóa thành năng lực phát triển thực tế. Điều quan trọng là phải được thể chế hóa đồng bộ, bảo đảm nguồn lực và tạo ra kết quả có thể đo lường, giám sát.
Số hóa di sản phải tạo ra tri thức số và tài sản trí tuệ
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đã đề ra bốn nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm, trong đó có nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam. Theo đại biểu, việc xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số có tầm quan trọng như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
- Chủ quyền văn hóa trên không gian số ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số. Khái niệm này không chỉ dừng ở việc ngăn chặn thông tin xấu độc hay xử lý nội dung vi phạm, mà quan trọng hơn là năng lực của một quốc gia trong việc sáng tạo, lưu giữ, bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa của mình trên môi trường số.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ khoảng trống về sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực và nguy cơ suy giảm "quyền dẫn dắt giá trị". Theo tôi, đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Chủ quyền văn hóa không chỉ là giữ gìn những giá trị chúng ta đang có mà còn là khả năng định hình đời sống tinh thần của xã hội bằng hệ giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Tuy nhiên, xây dựng chủ quyền văn hóa số không có nghĩa là khép kín hay từ chối giao lưu quốc tế. Vấn đề là phải có bản lĩnh, năng lực chọn lọc và sức đề kháng văn hóa; hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan, tiếp thu cái mới nhưng không đánh mất căn cốt của mình.
Do đó, chủ quyền văn hóa số phải được cấu thành từ ba năng lực: năng lực tự bảo vệ trước nội dung độc hại và sự xâm lấn giá trị; năng lực tự chủ về dữ liệu, công nghệ và phương thức phân phối; năng lực sáng tạo để văn hóa Việt Nam có sức cạnh tranh và khả năng tham gia dẫn dắt giá trị xã hội.
- Nghị quyết số 80 đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026. Tuy nhiên, không được chạy theo tỷ lệ để số hóa hình thức; việc số hóa phải hình thành nên tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia. Từ góc độ địa phương, theo đại biểu, cần triển khai như thế nào để thực hiện đúng những chỉ đạo nêu trên?
- Theo tôi, chỉ đạo không chạy theo tỷ lệ là rất đúng và cần được quán triệt ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, lựa chọn công nghệ đến nghiệm thu kết quả. Mục tiêu không phải tạo ra nhiều tệp dữ liệu, mà hình thành nguồn tri thức số có giá trị lâu dài.
Trước hết, địa phương phải kiểm kê, phân loại đầy đủ từng loại di sản để lựa chọn phương pháp số hóa phù hợp. Di tích, hiện vật, lễ hội, nghệ thuật trình diễn hay tri thức dân gian có đặc điểm khác nhau nên không thể áp dụng một quy trình chung. Đồng thời, dữ liệu phải được chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ thông tin về lịch sử, giá trị, tình trạng bảo tồn, quyền sở hữu và điều kiện khai thác.
Bên cạnh đó, cần coi trọng tính chính xác và giá trị khoa học của dữ liệu. Quá trình số hóa phải có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn, nhà nghiên cứu, nghệ nhân và cộng đồng chủ thể di sản, nhất là với di sản văn hóa phi vật thể. Đây không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật mà còn là điều kiện để bảo đảm tính xác thực và gìn giữ đúng giá trị của di sản.
Một yêu cầu quan trọng khác là xác định rõ mục đích sử dụng ngay từ đầu. Dữ liệu số phải phục vụ đồng thời công tác quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, quảng bá và phát triển các sản phẩm văn hóa, du lịch, thay vì chỉ lưu trữ. Cùng với đó, cần làm rõ quyền sở hữu, quyền khai thác dữ liệu, tránh tình trạng Nhà nước đầu tư nhưng không làm chủ được dữ liệu sau khi dự án kết thúc.
Cuối cùng, số hóa di sản không phải nhiệm vụ một lần mà là quá trình lâu dài. Vì vậy, địa phương phải đầu tư đồng bộ cho công nghệ, nhân lực và cơ chế vận hành, cập nhật dữ liệu thường xuyên. Theo tôi, một di sản chỉ thực sự được số hóa thành công khi dữ liệu chính xác, an toàn, liên thông và được khai thác hiệu quả cho bảo tồn, giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo và phát triển. Khi đó, di sản mới thực sự trở thành một phần của hạ tầng tri thức và tài sản trí tuệ quốc gia.
- Xin cảm ơn đại biểu!











