Bab al-Mandab - đòn bẩy chiến lược tiếp theo của Iran sau eo biển Hormuz?
Mỹ và Iran đã cùng tuyên bố sẽ ký thỏa thuận chấm dứt chiến tranh và đàm phán thống nhất một hiệp ước lâu dài, tuy nhiên giới quan sát vẫn chưa loại trừ rủi ro tái diễn xung đột và một khi xảy ra điều này có thể khiến Iran sử dụng đến một đòn bẩy chưa từng được khai thác trước đây: eo biển Bab al-Mandab.
Suốt thời gian hơn 3 tháng chiến sự với Mỹ, Iran và các đồng minh tuyên bố ý định phong tỏa hoàn toàn eo biển Hormuz đồng thời kích hoạt các mặt trận khác, đáng chú ý là eo biển Bab al-Mandab.
Là một trong những tuyến huyết mạch quan trọng nhất đối với thương mại và năng lượng toàn cầu, việc đóng cửa tuyến đường thủy này ở Biển Đỏ có thể gây ra cú sốc lớn đối với chuỗi cung ứng thế giới và đẩy giá năng lượng tăng vọt.
Eo biển Bab al-Mandab quan trọng mức nào và Iran có thể đóng hay không?

Vị trí của eo biển Bab al-Mandab trên bản đồ. Ảnh: ANADOLU AGENCY
Eo biển Bab al-Mandab tạo thành ranh giới hàng hải giữa 3 quốc gia: Yemen ở bờ phía đông và đông bắc trên bán đảo Ả Rập, cùng Djibouti và Eritrea ở bờ phía tây và tây nam thuộc vùng Sừng châu Phi. Bằng cách nối phía nam Biển Đỏ với Vịnh Aden và sau đó là Ấn Độ Dương, hành lang hàng hải này giúp rút ngắn đáng kể tuyến vận tải giữa châu Âu và châu Á, giúp tàu thuyền không cần đi vòng qua toàn bộ lục địa châu Phi.
Kích thước địa lý của eo biển chính là nguyên nhân khiến nơi đây dễ bị tổn thương. Tại điểm hẹp nhất, chiều rộng của eo biển chỉ còn khoảng 29 km.
Ông Nader Entessar, giáo sư danh dự ngành khoa học chính trị tại ĐH South Alabama (Mỹ), chia sẻ với tờ The New Arab: “Tầm quan trọng địa lý chủ yếu của eo biển Bab al-Mandab nằm ở vai trò của nó như một điểm nghẽn chiến lược hàng đầu trên thế giới, khi kết nối Biển Đỏ với Vịnh Aden và Ấn Độ Dương”.
“Trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, tầm quan trọng của Bab al-Mandab đã được nâng lên thành một mặt trận chủ chốt có tác động trực tiếp đến thương mại quốc tế và nguồn cung năng lượng” - ông nói thêm.
Ngoài lĩnh vực năng lượng, ông Entessar cho biết “hoạt động thương mại đi qua Bab al-Mandab có ảnh hưởng lớn đến dòng chảy của nhiều loại hàng hóa cũng như các tuyến cáp quang liên lạc giữa châu Âu và châu Á”.
Trước khi các cuộc xung đột liên tiếp bùng phát, Biển Đỏ là tuyến huyết mạch không thể thay thế của thương mại toàn cầu.
Năm 2023, theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) và các cơ quan giám sát hàng hải, khoảng 15% khối lượng thương mại toàn cầu và từ 20% đến 22% lưu lượng vận tải container trên thế giới đã đi qua vùng biển này.
Ngoài ra, trong giai đoạn trước khi chiến sự bùng phát, eo biển Bab al-Mandab tạo điều kiện cho khoảng 12% lượng dầu mỏ được giao dịch bằng đường biển trên toàn cầu và 8% nguồn cung khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới lưu thông mỗi ngày, theo dữ liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).
Khác với eo biển Hormuz, Iran không có đường bờ biển tiếp giáp trực tiếp với Bab al-Mandab. Hơn nữa, năng lực hải quân thông thường của Iran cũng không thể so sánh với Hải quân Mỹ.
Tuy nhiên, Tehran vẫn có thể gây gián đoạn nghiêm trọng hoạt động lưu thông của các tàu thương mại bằng cách đẩy mức độ rủi ro khi đi qua khu vực này lên ngưỡng không thể chấp nhận được.
Ông Nader Entessar nhận định: “Iran không có biên giới hàng hải tại Bab al-Mandab cũng như không sở hữu lực lượng hải quân đủ lớn để trực tiếp kiểm soát eo biển này”.
Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng Tehran “có khả năng tận dụng năng lực của đồng minh là lực lượng Houthis tại Yemen để tiếp tục quân sự hóa và đe dọa tuyến eo biển hẹp này nếu họ lựa chọn làm như vậy, đặc biệt trong bối cảnh Washington tiếp tục tiến hành chiến tranh chống lại Tehran”.

Lực lượng Houthis hoạt động ở Biển Đỏ. Ảnh: AFP
Cú sốc nếu eo biển Bab al-Mandab bị đóng
Nếu eo biển Bab al-Mandab không thể lưu thông, các tàu hoạt động trên tuyến thương mại giữa châu Á - châu Âu và châu Á - Bắc Đại Tây Dương sẽ buộc phải đi đường vòng rất xa qua Mũi Hảo Vọng ở cực nam châu Phi.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), việc đổi tuyến này làm quãng đường di chuyển của tàu chở hàng tăng 48% và của tàu chở dầu tăng 38% so với giai đoạn trước khủng hoảng. Do đó, thời gian hành trình của các tàu hàng có thể tăng tới 45%.
Tác động của việc này không chỉ dừng lại ở sự chậm trễ trong vận tải biển mà còn có thể tạo ra một cú sốc mang tính cấu trúc đối với nền kinh tế toàn cầu. Ông Farzin Zandi, nhà nghiên cứu khoa học chính trị tại ĐH Kansas (Mỹ), mô tả kịch bản gián đoạn này là một “cú sốc tổng hợp về năng lượng, thương mại và chuỗi cung ứng” với những hệ lụy sâu rộng.
“Bất kỳ sự gián đoạn nào tại đây cũng dẫn đến chi phí vận tải biển tăng cao, các tuyến hàng hải bị kéo dài và rủi ro bảo hiểm lớn hơn” - ông Zandi nhận định.
“Ở cấp độ năng lượng, sự gián đoạn như vậy sẽ gây áp lực lên nguồn cung dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) trong ngắn hạn, từ đó đẩy giá năng lượng toàn cầu tăng lên và tạo ra ‘phụ phí rủi ro’ trên thị trường dầu mỏ; một hiện tượng được xem là một trong những động lực chính gây biến động kinh tế vĩ mô và lạm phát toàn cầu” - ông giải thích thêm.
Chuyên gia này cảnh báo rằng hệ quả là chi phí năng lượng và vận tải gia tăng sẽ lan sang các chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời làm gián đoạn dòng chảy hàng hóa trung gian, qua đó ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp và thương mại thế giới.
Tác động đối với khu vực cũng nghiêm trọng không kém. “Các quốc gia ở vùng Sừng châu Phi và Yemen sẽ phải đối mặt áp lực lớn hơn, bao gồm việc khó tiếp cận các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, tình trạng mất an ninh lương thực gia tăng và nguồn thu từ hoạt động trung chuyển bị sụt giảm” - ông Zandi nhận định.
“Những nền kinh tế phụ thuộc vào các tuyến hàng hải như Ai Cập cũng sẽ chịu tác động gián tiếp do lưu lượng tàu thuyền giảm và những ảnh hưởng liên quan Kênh đào Suez” - ông nói thêm.
Đối với các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư, eo biển này ngày càng đóng vai trò là tuyến đường thay thế quan trọng. Ông Nader Entessar giải thích: “Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng hiện nay tại eo biển Hormuz, một số quốc gia sản xuất dầu trong khu vực đang ngày càng xem Bab al-Mandab như một lối thoát để xuất khẩu dầu mỏ”.
Theo ông Entessar, điều này đặc biệt đúng với Saudi Arabia, quốc gia đang mở rộng mức độ phụ thuộc vào hệ thống đường ống và các cảng trên Biển Đỏ.
Tuy nhiên, nếu “lối thoát” này bị phong tỏa, hậu quả sẽ mang tính thảm họa.
“Saudi Arabia, quốc gia đã trở nên phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu năng lượng qua eo biển Bab al-Mandab sau khi eo biển Hormuz bị đóng cửa, trên thực tế sẽ bị đặt vào tình trạng bao vây kinh tế” - theo ông Zandi.
“Tình hình này không chỉ làm gia tăng căng thẳng giữa các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư mà còn khiến điều kiện kinh tế của các nước này cũng như toàn khu vực phải đối mặt những thách thức nghiêm trọng hơn” - vị chuyên gia kết luận.
Tác động đối với Mỹ
Nếu cả eo biển Hormuz và Bab al-Mandab cùng lúc bị gián đoạn, những tác động kinh tế sẽ không chỉ đơn thuần cộng dồn mà còn khuếch đại lẫn nhau. Cuộc khủng hoảng đồng thời tại hai tuyến hàng hải trọng yếu này cũng đe dọa trực tiếp lợi ích của Mỹ.
“Đối với Mỹ, một cú sốc tổng hợp như vậy có thể tạo ra 3 loại áp lực. Thứ nhất là áp lực lạm phát trong nước do giá năng lượng và vận tải tăng cao, tác động trực tiếp đến chính sách kinh tế của chính phủ. Thứ hai là nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu gia tăng do thương mại và sản xuất bị gián đoạn. Thứ ba là sự bất ổn địa chính trị ngày càng lớn tại Trung Đông, gắn trực tiếp với an ninh năng lượng của các đồng minh Mỹ, đặc biệt là châu Âu và Đông Á” - ông Zandi phân tích.
Ông Zandi nhấn mạnh rằng sự ổn định vẫn sẽ nằm ngoài tầm với “trừ khi Mỹ rút khỏi cuộc chiến, chấm dứt cuộc xung đột này và giải thoát chính mình, các đồng minh cùng các quốc gia khác khỏi tình trạng hiện nay”.














