Bắc Ninh: Phát huy giá trị di tích các giếng vuông cổ vùng Tân Yên, gắn kết di sản với phát triển du lịch văn hóa
Giếng làng thường được nhắc đến trong các tài liệu nghiên cứu về văn hóa làng xã và các thiết chế làng xã từ xưa đến nay. Vấn đề này luôn được các nhà khoa học quan tâm nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đặc biệt là các di sản văn hóa phi vật thể tồn tại thường gắn với các thiết chế văn hóa cổ. Hơn nữa, sự xuất hiện của các hình thái giếng vuông khác biệt hẳn với các hình thái giếng khác trong khu vực cũng đặt ra câu hỏi về nguồn gốc lịch sử loại giếng này ?

Toàn cảnh giếng Đình Hả, xã Nhã Nam, tỉnh Bắc Ninh
Phần 1: Giếng vuông Nhã Nam: Từ huyệt mạch phong thủy đến ký ức làng quê
Nhận diện Giếng Vuông
Vùng Tân Yên (Bắc Ninh) đang đẩy mạnh thông qua việc bảo tồn, tu sửa gần 150 giếng vuông cổ nhằm gắn kết di sản với phát triển du lịch văn hóa. Các giếng này không chỉ là nguồn nước sinh hoạt mà còn là “hồn quê”, biểu tượng hòa hợp giữa con người và tự nhiên, giúp khơi dậy ý thức cộng đồng trong việc giữ gìn cảnh quan nông thôn mới.
Cùng với cây đa, giếng nước, sân đình, giếng làng trở thành một biểu tượng đẹp trong văn hóa mỗi vùng quê Việt Nam. Là một bộ phận cấu thành nên thực thể của làng Việt, giếng làng có vai trò, chức năng của nó. Vừa là nơi tụ khí linh thiêng của đất trời, vừa là nơi chứng kiến các hoạt động sinh hoạt văn hóa của nhân dân qua nhiều thế hệ, giếng làng là không gian văn hóa mang biểu tượng tinh thần của nhiều làng xã. Nhiều loại hình văn hóa dân gian diễn ra quanh không gian các thiết chế văn hóa cơ bản này và cũng từ đây mà trở thành nét đẹp văn hóa mang đặc trưng của từng vùng miền.
Vùng đất Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là các xã Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam, tỉnh Bắc Ninh) không nằm ngoài những hình thái đó. Là khu vực nằm trong vùng chuyển tiếp của vùng núi Việt Bắc và Đông Bắc với vùng châu thổ sông Hồng, vùng Tân Yên có địa hình đồi núi thấp, thoai thoải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có sông Thương chảy qua nên có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, vừa mang hình thái của vùng đồng bằng Bắc bộ lại mang hình thái của miền trung du. Tân Yên theo các nghiên cứu khảo cổ cũng là địa bàn cư trú của người Việt Cổ. Trải qua các thời kỳ lịch sử, con người và vùng đất Tân Yên cũng có nhiều đóng góp cho đất nước. Đặc biệt, vùng đất này cũng là nơi diễn ra nhiều hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh, lễ hội dân gian lâu đời với nhiều phong tục độc đáo phản ánh lịch sử lâu đời của con người trên miền đất này.
Trên địa bàn Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam có những giếng làng cổ kính có tuổi đời hàng vài trăm năm tuổi với nhiều hình thái khác nhau. Giếng thường có các hình dạng chủ yếu là giếng tròn và giếng vuông, giếng hình bán nguyệt. Trên địa bàn vùng Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam hiện nay vẫn tồn tại các hình thái giếng vuông khác lạ và độc đáo. Đối với giếng vuông, dân làng hầu hết không còn ai nhớ chính xác về niên đại của giếng, chỉ biết là đã có từ rất lâu rồi. Trong các giếng đó, có nhiều giếng đã nằm trong những câu chuyện truyền thuyết của vùng được người dân lưu truyền lại cho đến ngày nay.
Kỹ thuật xây dựng và đặc điểm độc đáo của giếng vuông cổ
Giếng vuông khảo sát trên vùng đất Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam là loại giếng có hình vuông, lòng giếng được sếp chồng các lớp đá lên nhau, đáy giếng thường có chắn bằng khúc gỗ lim. Miệng giấy có hình vuông đã được tu sửa xây thành cáo hoặc thấp. Theo lời kể của những người cao tuổi nơi đây mỗi khi đào giếng, người xưa đã tỉ mỉ lựa từng viên đá ong cứng chắc để mang ra phơi ngoài nắng mưa càng lâu càng tốt để đủ độ lì rồi mới bắt tay vào đào giếng. Đào đến khi nào có mạch nước ngầm vọt lên thì người xưa thường lấy một khung gỗ chắc chắn bằng gỗ lim, kích thước vuông theo dáng giếng để đặt vào tầng dưới cùng, gần đáy giếng nhất. Việc này nhằm giữ cho thành giếng không bị lún sụt và kéo dài được tuổi thọ của giếng. Sau đó, người ta lần lượt xếp từng lớp đá ong theo vòng, từ dưới lên trên. Thành giếng vuông thường thấp, chỉ cao hơn mặt đất khoảng 5 đến 10 phân. Đá được chọn thường là đá ong, đá nhám. Hiện nay, phần lớn các giếng đang tồn tại trên địa bàn đều được xây thành cho thêm cao, không còn giữ được nguyên bản cấu trúc ban đầu.

Một góc lòng giếng Đình Hả , xã Nhã Nam, tỉnh Bắc Ninh
Đặc điểm của giếng vuông trên địa bàn các xã Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam là quanh năm không bao giờ cạn nước, nước sạch, trong xanh và mực nước cao hơn mực nước ao trong vùng. Trước kia, nước giếng là nguồn nước sạch chính để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân. Giếng vuông hay giếng làng ở Tân Yên nói chung thường đặt ở đầu làng hoặc những nơi trung tâm cư dân sinh sống, có cảnh quan tươi đẹp, sạch sẽ, không lo khô hạn vào mùa nắng và không ngập lụt vào mùa mưa, đặc biệt là có mạch ngầm sâu để nguồn nước xung quanh không bao giờ cạn kiệt. Các thầy địa lý tìm mạch nước theo thuật kinh dịch để khơi giếng làng và đó được coi như long mạch của làng để con dân tấn tới trong hành trang xây đắp cuộc sống, học hành, khoa bảng. Vì vậy, giếng được coi như là tài sản chung của cả dân làng, cũng là nơi “linh thiêng” bởi huyệt đất tốt, hoặc để trấn yểm dữ cho làng. Tại vùng Tân Yên có những giếng có niên đại từ rất sớm, có thể lên đến nhiều thế kỷ. Trong đó, các giếng vuông hiện nay có mặt trên địa bàn hầu hết có niên đại từ rất sớm, có thể từ trước thế kỷ XVIII - XIX.
Giá trị của giếng vuông trong đời sống cộng đồng
Không chỉ mang ý nghĩa duy trì nguồn nước, sự sống cho dân làng, giếng vuông nói riêng và hệ thống giếng làng ở huyện Tân Yên nói chung còn mang nhịp sống, hơi thở của cư dân nơi đây, chứng kiến bao kỷ niệm, thăng trầm của người dân và làng xóm từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính bởi những giá trị quý báu từ vật chất đến tinh thần mà nó mang lại
Về giá trị vật chất: Nước và lửa là hai thành tốt quan trọng trong đời sống của con người. Giếng nước là một trong những phương thức cung cấp nước chính cho cộng đồng người dân làng xã trước kia. Người dân dùng nước giếng làng để phục vụ đời sống, ăn uống, tắm giặt và các công việc sản xuất…Vào những hôm tuần rằm, mùng một, hay các dịp lễ tết, người dân còn ra đây rửa lá bánh, vo gạo.
Ngoài cung cấp nước cho đời sống người dân, các giếng trong vùng Tân Yên còn có giá trị lưu giữ. Khi giặc giã tràn vào, giếng trở thành nơi lưu giữ những vật dụng thiết yếu. Theo một số lời kể của người dân địa phương, giặc tràn vào khi dân làng đang gói bánh chưng, người làng bèn đưa bánh xuống giếng, vài tháng sau trở về, vớt bánh lên nấu lại vẫn giữ nguyên được hương vị. Bên cạnh đó, giếng nước cùng với cây đa, mái đình luôn tạo thành bộ cảnh quan có tính thẩm mỹ và trở thành những thiết chế văn hóa mang lại giá trị đẹp đẽ, linh thiêng và tinh tế cho cảnh sắc làng quê.
Về giá trị tinh thần, ngoài các giá trị vật chất hiện hữu, giếng làng còn trở thành không gian sinh hoạt văn hóa chung của cả làng. Đây là nơi lưu giữ tình làng nghĩa xóm, chứng kiến bao sự kiện thăng trầm của lịch sử làng xã, qua bao thế hệ. Mặc dù cho đến nay, cuộc sống trở nên hiện đại. Người dân thay vì dùng nước giếng thì dùng nước máy để phục vụ sinh hoạt nhưng quanh khu vực giếng làng vẫn là nơi tụ tập, giao lưu, lưu giữ bao kỷ niệm đẹp của tình làng nghĩa xóm. Những người cao tuổi vẫn chọn nơi đây là nơi gặp gỡ, trò chuyện, kể cho nhau nghe các công việc đồng áng, những câu chuyện về cuộc sống. Giếng làng cũng là nơi gặp gỡ, hẹn hò của bao nhiêu đôi trai gái. Có những cặp vợ chồng đã nên duyên nhờ gặp nhau bên giếng nước. Những buổi chiều đi học về, hay những trưa hè nóng bức, đây cũng là nơi trẻ con tụ tập chơi đùa. Giếng làng cũng truyền tải năng lượng gắn kết, khơi gợi lòng yêu nước. Đặc biệt là khu vực Tân Yên, Quang Trung, Nhã Nam là nơi trong thời kỳ khởi nghĩa Yên Thế, nghĩa quân đã về đây để sinh hoạt và luyện tập. Giếng làng cũng là chứng kiến những sự kiện lịch sử trọng đại đó.
Từ giếng nước, làng trên xóm dưới được gắn kết với nhau tạo nên cộng đồng gắn bó, keo sơn. Từ đó dẫn đến tình cảm cưu mang, yêu thương, tương hỗ nhau giữa các làng qua từ xưa cho đến nay.
Giá trị văn hóa tinh thần còn được người dân kết tinh trong văn thơ, ca dao, tục ngữ, các câu chuyện truyền thuyết… Giếng nước cứ thế đi vào nghệ thuật bằng những ngôn từ mộc mạc, thân quen qua những câu ca dao, tục ngữ hay câu đố như:
“Miệng bằng cái nong, cả lòng đong không hết”.
“Đàn ông nông nổi giếng khơi”.
“Em tưởng giếng sâu, em nối sợi gầu dài, ai ngờ giếng cạn, em phí hoài sợi dây”…
“Nguyền cùng trước giếng sau chùa
Trăm năm giữ vẹn chát chua chẳng hề”.
"Sông kia có cạn còn ao
Cũng nguyền vét giếng mà trao ân tình".
"Thứ nhất gần mẹ gần cha
Thứ nhì gần giếng, thứ ba gần đình".
Hay như câu nói
"Thân em như giếng giữa đàng
Kẻ khôn rửa mặt, người phàm rửa chân"…
Những câu ca dao tục ngữ này đã nói lên một điều rằng hình tượng giếng nước từ xưa đến nay đã trở thành một thiết chế văn hóa quan trọng, gắn bó mật thiết với cuộc sống của cư dân, làng xã, được đúc kết thành thành những kinh nghiệm dân gian quý báu và sâu sắc. Cây đa - giếng nước - sân đình đã trở thành một biểu tượng đẹp trong văn hóa mỗi vùng quê Việt Nam. Là một bộ phận cấu thành nên thực thể của làng Việt, giếng làng có vai trò, chức năng của nó. Vừa là nơi tụ khí linh thiêng của đất trời, vừa là nơi chứng kiến các hoạt động sinh hoạt văn hóa của nhân dân qua nhiều thế hệ, giếng làng là không gian văn hóa mang biểu tượng tinh thần, đi sâu vào tiềm thức của người dân và được đúc rút qua những câu nói, chuyện kể được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Giếng vuông tại làng Thễ, xã Quang Trung
Phần 2: Khi huyền tích, lịch sử và hồn quê hội tụ
Huyền sử Giếng vuông
Quan niệm về nguồn nước là một khái niệm tương đối sâu sắc trong đời sống xã hội cổ của cư dân Nhã Nam, gắn liền với quan niệm phong thủy cổ xưa. Vì vậy, tại khu vực này xuất hiện những truyền thuyết về phong thủy đối với giếng nước tại đây. Ở xã Nhã Nam hiện nay còn truyền nhau câu chuyện bắt nguồn từ bối cảnh lịch sử những năm 1862, tàn quân của Thái Bình Thiên quốc từ Trung Quốc chạy sang Việt Nam, bộ phận xâm nhập vào Yên Thế cũng như Hà Bắc là toán quân do Ngô Côn cầm đầu. chúng giết đàn ông, trẻ con, tàn phá cư dân trong vùng, tàn phá và quấy nhiễu dân cư trong vùng, bắt đàn bà đem bán sang Tàu, đốt nhà cướp của…
Chúng cho rằng đất Nhã Nam là đất Đế Vương, là đất "sư tử vờn cầu", đất làng Nguộn, làng Thượng là đất "hoàng xà". Theo đó quả đồi làng Chuông, làng Ngò, làng Vàng, làng Lã, làng Cầu cư trú được ví như con sư tử, quả đồi nghĩa địa tây là quả cầu) nên theo con mắt phong thủy, quân Tày thấy cần phải triệt hạ. Mà giếng nước là huyệt làng nên vào một đêm, chúng cho đào 5 cái giếng để triệt mạch, trong đó, 4 cái giếng Phan, giếng làng Vàng, Lã, Ngò xòe ra như 4 chân con sư tử bao quanh các làng. Điều đó có thể thấy ở thực tế: chính là sự diệt vong của làng Lã, làng Cầu, làng Ngò. Làng Thượng suy thoái, làng Chuông điêu tàn sau cuộc chiến chống giặc Tàu La Tắc Tứ, Phùng Tích Chỉ. Dân binh làng Thượng chết 37 người, nhiều ao chôn vùi con trai, con trẻ… làng Chuông, làng Ngò bị giặc Tàu chiếm nay không tìm ra người nào làm nhân chứng. Từ đó có thể hiểu được việc đặt đá trấn yểm và đào giếng triệt mạch chỉ là cái màn tôn giáo huyền bí để che đậy thực tại dã man của quân xâm lược.
Sau những cuộc tàn sát đó, người dân hiện nay cho rằng các giếng làng còn bị bỏ độc, bệnh dịch dần phát triển, đinh tráng bị tiêu diệt nhiều. Mãi đến năm 1884, khi quân Pháp tấn công, cho lập đồn binh ở Nhã Nam và sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Yên Thế đã làm cho đồn Nhã Nam được mở rộng dẫn tới việc xây dựng lại nhà cửa, dinh lũy và đưa người tới cư trú tại khu vực này. Các giếng nước từ đây cũng trở lại trong mát, có thể phục vụ đời sống sinh hoạt của cộng đồng.
Liên quan đến câu chuyện về giặc Tàu, tại các khu vực có giếng vuông khác như khu vực Quang Trung, Nhã Nam từ bao đời nay cũng truyền nhau những câu chuyện mang màu sắc huyền bí. Người dân kể lại rằng, những giếng này khi xưa khi giặc Tàu sang xâm chiếm, chúng tìm một thầy bùa phong thủy người Tàu tìm chọn và bắt một cô gái trinh nguyên trong làng để làm thần giữ của cho giếng. Các cụ cao niên cũng kể rằng, xưa kia giặc Tàu khi sang xâm chiếm đã vơ vét được rất nhiều vàng của người Việt khi đó nên đã chôn vàng xuống dưới giếng để giấu đi. Chúng yểm bùa bằng một cô gái còn trinh nguyên để giữ của. Cũng chính bởi câu chuyện này mà có những thời điểm, người dân quanh khu vực này thấy xuất hiện nhiều người lạ đến tìm vàng. Sau những lần nạo vét giếng người dân quanh đây đều khẳng định không có vàng dưới giếng và đó chỉ là câu chuyện được truyền miệng trong dân gian mà không có tính xác thực. Tuy nhiên, người dân trong vùng khẳng định rằng, nước giếng vuông nơi đây không bao giờ cạn, lúc nào cũng trong mát và cao hơn mặt nước ao hồ quanh đó nên càng khẳng định những giếng vuông này đều là những giếng rất thiêng. Cũng vì tính thiêng đó, mà nước giếng vuông hay giếng làng được người dân rước nước về làm lễ tế, dùng để thờ cúng thành hoàng tại đình trong những dịp hội làng.

Toàn cảnh giếng vuông thôn Vàng Ve, xã Đại Hóa, Bắc Ninh
Tầng sâu văn hóa dưới lớp trầm tích huyền thoại
Giếng làng nằm trong thiết chế văn hóa cổ còn thể hiện vốn văn hóa đa dạng của người dân, tạo nên những đặc trưng riêng biệt của từng địa phương đúc kết trong những câu ca dao, tục ngữ như:
"Nước giếng Nhã Nam vừa trong vừa mát
Đường cái Nhã Nam lắm cát dễ đi
Ai về xứ Thái làm chi
Nước giếng thì đục, đường đi thì lầy"
Cứ như vậy từ lúc nào hình tượng giếng ăn sâu vào tiềm thức của người dân. Những câu nói được lưu truyền qua nhiều thế hệ trở thành tư tưởng, phương châm sống được người xưa đúc kết và răn dạy cho thế hệ sau.
Thường ở vị trí trung tâm của làng, nên trước kia giếng là tâm điểm gặp gỡ, giao lưu của người già, trẻ nhỏ. Người dân khi ra giếng gánh nước có dịp hỏi thăm nhau, kể cho nhau nghe những câu chuyện làng, chuyện con cái, chuyện đồng ruộng, những câu chuyện vui vẻ, hài hước, làm tan biến đi mệt nhọc trong công việc hàng ngày. Cứ như thế tiếng cười, tiếng nói vang lên rộng ràng. Đặc biệt là dân vùng Dương Sơn, xã Liên Sơn cũ có chung đồng với dân làng Hòa Làng, thuộc xã Phúc Hòa cũ, hàng ngày đi làm, dân Hòa Làng khoe nói khoác giỏi, dân Dương Sơn bảo: “Chúng tôi còn nói khoác bằng ba!”.
Về giá trị tâm linh, giếng là biểu trưng cho sự sung mãn, sức sống của làng bởi vậy mà giếng mang một ý nghĩa tâm linh không hề nhỏ. Đó là long mạch của làng được người dân tôn thờ, giữ gìn. Giếng theo âm Hán Việt gọi là “tỉnh” được xếp hàng đầu trong ngũ tự gia đường, tức là tập hợp năm đối tượng thờ tự của mỗi gia đình, gồm: thần Táo (bếp), thần Tỉnh (giếng), thần Môn (cổng), Hộ (cửa), và Trung lưu (máng xối/giữa nhà). Trong tổng thể cấu trúc tâm linh ở làng quê, nếu cây đa có thần, chùa có Phật thì giếng nước có thủy thần. Trong Kinh dịch có viết “cải ấp, bất cải tỉnh” có nghĩa là đổi làng chẳng đổi giếng. Vì vậy, giữ gìn di sản giếng làng chính là giữ gìn những mạch nguồn tinh túy của lịch sử còn ăn sâu vào tâm thức mỗi người dân.
Nằm trên địa bàn Tân Yên, nên các khu vực tồn tại giếng vuông cũng không nằm ngoài những nét văn hóa truyền thống của vùng. Từ xa xưa, cư dân trên mảnh đất này đã có những hoạt động văn hóa tinh thần phong phú, vừa phản ánh hoạt động sản xuất, vừa thể hiện tâm tư, nguyện vọng của người dân và trở thành những thành tố cấu thành nên đặc trưng văn hóa dân gian của vùng. Điều đó được thể hiện qua các tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống và nhiều tập tục khác. Hiện nay ở khu vực này hiện còn bảo lưu được khoảng 17 giếng vuông. Tuy nó không phải là nhiều so với các giếng tròn phổ thông ở các làng quê nhưng dân làng vẫn giữ gìn, tu bổ giếng một cách cẩn thận chứ không lấp đi bởi nó mang dấu tích văn hóa và gắn bó với dân làng suốt bao đời nay.
Mặc dù mang hình thái đặc biệt và chưa có lý giải nguồn gốc vì sao có hình dáng đó nhưng từ xưa đến nay, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử tại các giếng vuông này vẫn diễn ra các sinh hoạt văn hóa dân gian và phong tục tập quán mang đậm bản sắc quê hương. Người dân địa phương vẫn hiểu rằng, giếng làng không chỉ là cái giếng thuần túy mà là ngọn nguồn của các giá trị vật chất và tinh thần cho cả cộng đồng dân cư. Ngày nay, khi cuộc sống phát triển, nước máy dần thay thế nước giếng, giếng làng không còn nhiều giá trị sử dụng nữa. Nhưng trong tâm thức của người dân, giếng làng vẫn mang một giá trị văn hóa đặc biệt và vô cùng sâu sắc. Đó là những giá trị văn hóa mà người xưa gửi lại cho hậu thế. Đặc biệt là những chiếc giếng vuông mang hình thái đặc biệt và nhiều câu chuyện trong dân gian cần khai thác sâu hơn để tìm hiểu về nguyên do hình thành nên loại giếng với hình thù đặc biệt này. Người dân vẫn gìn giữ và bảo vệ giếng như để giữ mạch nguồn của những giá trị lịch sử, văn hóa mà người xưa để lại cho hậu thế.
Giữ giếng làng – giữ hồn văn hóa trong dòng chảy công nghiệp hóa
Ngày nay vùng quê Tân Yên đang chuyển mình đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng không gian văn hóa cây đa - giếng nước - sân đình vẫn mãi là giá trị thiêng liêng, in đậm trong tâm trí, ký ức của nhiều thế hệ. Hệ thống các giếng vuông trong khu vực đã được tôn tạo lại đẹp đẽ hơn như một lời nhắc nhở cho con cháu thế hệ sau và bảo lưu dấu ấn hồn quê, của một thời sinh hoạt cộng đồng của làng xã. Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng nhân dân, đặc biệt là những giá trị văn hóa phi vật thể như phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội, văn học dân gian, diễn xướng...
Xét về bản chất, văn hóa dù ở hình thức nào, từ văn hóa vật thể đến văn hóa phi vật thể, từ trong các di tích đến các mọi sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, lễ hội, tập tục, tín ngưỡng, tôn giáo, kiêng kỵ hay các tri thức dân gian về nghề nghiệp, ẩm thực... đều là những giá trị tồn tại dưới dạng cái vật chất cụ thể, hoặc cái trừu tượng mang tính chất là những cái ẩn chứa phía sau những hoạt động, hoặc kết quả của các hoạt động tinh thần (có ý thức) của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình. Những giá trị ấy chính là “cái hồn”, thể hiện rõ nhất thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa của cộng đồng đó.Trải qua thời gian, nó sẽ trở thành vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc và cũng có thể là của cả nhân loại. Do vậy, gìn giữ và phát huy những tác dụng tích cực của văn hóa phi vật thể của nhân dân nói chung, nhân dân vùng có giếng vuông nói riêng sẽ là nguồn lợi vô tận cho sự phát triển bền vững của địa phương. Việc bảo tồn các hiện tượng văn hóa cổ truyền, trong đó có văn hóa phi vật thể, cần được quan tâm nhiều hơn trước nguy cơ bị mất đi nhanh chóng trong sự biến đổi xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, giá trị sử dụng của giếng vuông gần như không còn tồn tại trong cuộc sống cộng đồng cư dân./.












