Bài 1: Bạo lực gia đình và vỏ bọc mang tên 'chuyện riêng'
Những cú tát, lời chì chiết hay sự kiểm soát đời sống tưởng chừng như đây chỉ là câu chuyện bố mẹ dạy bảo con cái, hay vợ chồng giữ gìn hạnh phúc…, nhưng thực chất đang âm thầm hủy hoại nhiều gia đình. Khi bạo lực được ngụy trang dưới danh nghĩa 'dạy con', 'giữ hạnh phúc', hậu quả không chỉ là tổn thương tinh thần mà còn có thể dẫn tới những bi kịch không thể cứu vãn.
Đòn roi… “yêu thương”
Một năm trước, lực lượng công an tại tỉnh Gia Lai đã hỗ trợ tìm kiếm hai chị em nhỏ bỏ nhà đi khiến gia đình vô cùng lo lắng. Theo thông tin từ cơ quan chức năng, em Đ.T.N (15 tuổi) cùng em gái là Đ.T.M.H (6 tuổi) đã rủ nhau rời khỏi nhà vì sợ bị bố mẹ đánh do không chịu đi học.
Sau khi bỏ đi, hai chị em đón xe khách đến thị trấn Kon Dơng rồi xuống xe đi lang thang. Trong quá trình đó, các em may mắn được người dân địa phương phát hiện, hỗ trợ thức ăn và chỗ ngủ qua đêm. Nhận được tin báo, công an địa phương nhanh chóng vào cuộc xác minh nhân thân, liên hệ với gia đình và đưa hai chị em trở về nhà an toàn.
Mới gần đây nhất, tại Hà Nội, vụ việc một bé gái bốn tuổi bị mẹ và người tình của mẹ bạo hành đến mức tử vong. Theo lời khai tại cơ quan công an, cặp đôi này thường xuyên đánh đập, bỏ đói cháu bé nhiều ngày với lý do dạy dỗ cháu, như việc phạt cháu bé không cho ăn suốt 3 ngày vì cho rằng cháu đã “đi ăn chực”, hay đánh đập cháu bé vì bé lục lọi tìm đồ ăn trong đêm… Hiện, các đối tượng đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an TP Hà Nội khởi tố và bắt tạm giam về tội “Giết người”.
Trong nhiều gia đình Việt Nam, câu nói “yêu cho roi cho vọt” vẫn được xem như một phương pháp giáo dục truyền thống. Không ít bậc cha mẹ tin rằng vài cái tát, một trận đòn roi hay những lời quát mắng nặng nề sẽ giúp con “nên người”. Nhưng, ranh giới giữa dạy dỗ và bạo lực đôi khi mong manh đến mức nhiều người không nhận ra mình đang gây tổn thương cho con cái.
Theo báo cáo của UNICEF tại Việt Nam, có đến 3/4 trẻ nhỏ từng chịu hình phạt mang tính bạo lực trong gia đình. Cứ 10 trẻ em từ 1 - 14 tuổi thì có hơn 7 trẻ đã chịu ít nhất một hình thức xử phạt về tâm lý hoặc thể xác bởi các thành viên trong hộ gia đình. Không chỉ là bạo lực thể xác, nhiều đứa trẻ còn lớn lên trong những lời mạt sát kéo dài. Việc trẻ thường xuyên bị xúc phạm sẽ dễ đẩy các em rơi vào trạng thái tự ti, lo âu, mất khả năng kết nối cảm xúc, thậm chí trầm cảm. Nhiều em học giỏi nhưng luôn sống trong sợ hãi vì áp lực kỳ vọng từ cha mẹ. Có em chọn cách thu mình, có em phản kháng bằng hành vi bạo lực ngược lại với gia đình và xã hội.
Thực tế, số liệu khảo sát điều tra xã hội học cũng cho biết, bạo lực gia đình (BLGĐ) ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ chiếm 91%; gây tổn hại về sức khỏe, thể chất 87,5%; gây tổn thương về tâm lý, tinh thần chiếm hơn 89%.
Bạo lực hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau
BLGĐ ở Việt Nam không chỉ tồn tại ở nhóm những gia đình nhất định mà xuất hiện ở mọi tầng lớp xã hội. Điều khác biệt nằm ở hình thức biểu hiện.
Ở nhiều vùng nông thôn, BLGĐ thường dễ nhận diện, đó là những trận đánh đập, đập phá đồ đạc, chửi bới sau những cuộc rượu chè hoặc áp lực cơm áo gạo tiền. Không hiếm những vụ việc, người bố, người chồng sau khi say xỉn hành hung vợ con, khiến hàng xóm phải chạy sang can ngăn. Áp lực kinh tế, thất nghiệp, nợ nần và tư tưởng gia trưởng khiến nhiều gia đình nông thôn sống trong sợ hãi triền miên. Không ít trẻ em đã bị đánh nhiều năm nhưng không tố cáo.
Trong khi đó, ở đô thị, BLGĐ ngày càng mang hình thức “lạnh” và khó nhận diện hơn. Không có tiếng la hét, không có thương tích, nhưng nạn nhân lại bị bào mòn tinh thần mỗi ngày. Đó là những đứa trẻ phải học thêm kín tuần, sống dưới áp lực thành tích, bị so sánh và ép buộc đến kiệt sức tinh thần. Hay các em cũng có thể bị bố mẹ thường xuyên kiểm tra điện thoại, cấm gặp bạn bè, bị xúc phạm bằng những lời chì chiết kéo dài.
Trong tháng 4/2026, Tổng đài 111 đã ghi nhận nhiều vụ bạo lực trẻ cần can thiệp, trong đó gần 75% vụ việc do chính người thân của các em gây ra. Trong số 181 trường hợp cần hỗ trợ, TP HCM là địa bàn xảy ra nhiều vụ việc nhất với 37 trường hợp, theo sau là Hà Nội với 26 vụ, nhóm trẻ từ 11 - 14 tuổi chiếm gần 22,6%.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022, các hành vi như “hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng” được xác định là hành vi BLGĐ. Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều 3 cũng quy định rõ việc “lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm” là hành vi bị nghiêm cấm.
Luật cũng bổ sung nhiều hành vi bạo lực tinh thần và kiểm soát đời sống như cô lập tâm lý, ngăn cản các mối quan hệ xã hội hợp pháp, kiểm soát tài sản và thu nhập nhằm tạo sự lệ thuộc về vật chất, tinh thần; hoặc cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức. Điều đó đồng nghĩa, những trận đòn roi hay lời nhục mạ không còn là “chuyện riêng” mà đã là hành vi vi phạm pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Nga, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế khẳng định, bạo hành trẻ em là một dạng “bạo lực kín”, nếu không có người thông tin, thông báo thì khó biết để can thiệp. Hiện nay, pháp luật đã quy định rất rõ việc tách trẻ ra khỏi môi trường không an toàn trong trường hợp khẩn cấp tại Nghị định 56/2017/NĐ-CP. Nếu cha mẹ hoặc người thân là người bạo hành, trẻ phải được đưa về người thân khác hoặc cơ sở bảo trợ xã hội để bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều vụ việc vẫn bị xem nhẹ bởi tâm lý “đóng cửa bảo nhau”. Hàng xóm nghe tiếng trẻ khóc, tiếng đánh đập nhưng ngại can thiệp. Người thân biết chuyện nhưng khuyên bỏ qua vì “cha mẹ nào chẳng thương con”.
Chia sẻ với truyền thông, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh đưa ra ba nhóm giảỉ pháp, để cộng đồng góp phần phòng, chống BLGĐ. Một là, xây dựng nghĩa vụ báo cáo bắt buộc có chế tài. Hiện nay, giáo viên, nhân viên y tế, hay hàng xóm không có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng khi phát hiện dấu hiệu bạo hành. Quốc hội cần xem xét bổ sung vào Luật Trẻ em quy định về “nghĩa vụ báo cáo bắt buộc” (mandatory reporting obligation), như mô hình đang áp dụng tại nhiều quốc gia châu Âu, buộc các nhóm chuyên nghiệp tiếp xúc thường xuyên với trẻ như giáo viên, bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên xã hội phải báo cáo khi có cơ sở nghi ngờ bạo hành và có chế tài khi không báo cáo.
Hai là, chuẩn hóa kỹ năng nhận diện cho các nhóm tiếp xúc trực tiếp. Giáo viên là tuyến đầu hiệu quả nhất nếu được trang bị đúng công cụ. Thầy cô cần chú ý khi học sinh bỗng nhiên rúm ró, sợ hãi, đó có thể là dấu hiệu trẻ đã phải chứng kiến bạo lực hoặc là nạn nhân của bạo lực. Tuy nhiên, nhận biết được điều này đòi hỏi đào tạo có hệ thống, không thể chỉ dừng ở ý thức cá nhân. Tương tự, tổ trưởng dân phố và hội phụ nữ cần được cung cấp danh sách các dấu hiệu cảnh báo cụ thể và quy trình chuyển tuyến rõ ràng.
Ba là, kích hoạt mạng lưới “địa chỉ tin cậy” cộng đồng theo mô hình đã được chứng minh, theo Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh.
Cùng quan điểm, tại Hội nghị triển khai một số hoạt động liên quan đến việc thực hiện Luật Trẻ em và Luật Tư pháp người chưa thành niên trên địa bàn TP HCM do Sở Y tế TP HCM tổ chức cuối tháng 5/2026, ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam nhấn mạnh, hệ thống cơ sở giữ vai trò nền tảng, quyết định hiệu quả công tác bảo vệ trẻ em trong hệ thống an sinh xã hội.
(Còn tiếp)











