Bài 2: Gắn kết nghiên cứu khoa học với thị trường

Khi nền tảng tri thức và định hướng làm chủ công nghệ chiến lược từng bước được hiện thực hóa thì yêu cầu đặt ra đối với khoa học-công nghệ cũng có sự thay đổi căn bản.

EVN ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành, bảo đảm hệ thống hoạt động an toàn, thông suốt trong mọi thời điểm. (Ảnh EVN)

EVN ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành, bảo đảm hệ thống hoạt động an toàn, thông suốt trong mọi thời điểm. (Ảnh EVN)

Khi nền tảng tri thức và định hướng làm chủ công nghệ chiến lược từng bước được hiện thực hóa thì yêu cầu đặt ra đối với khoa học-công nghệ cũng có sự thay đổi căn bản. Đó là, giá trị cuối cùng của nghiên cứu phải được thể hiện ở khả năng tạo ra công nghệ, sản phẩm, phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, của nền kinh tế, tạo động lực chính cho xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước.

Chuỗi liên hoàn cho phát triển

Theo các chuyên gia, nhà khoa học, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và đưa đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đã tạo thành một trục chính sách quan trọng khi khoa học-công nghệ là động lực then chốt; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và thị trường.

Cùng với đó, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã tạo bước mở quan trọng xác định yêu cầu gắn hoạt động khoa học-công nghệ với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội; có quy định riêng về thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đảng định hướng chiến lược, Quốc hội thể chế hóa bằng pháp luật, Nhà nước tổ chức thực thi, nhà khoa học tạo ra tri thức, công nghệ và doanh nghiệp là lực lượng đưa công nghệ vào thị trường… đã tạo thành một chuỗi liên hoàn cho phát triển khoa học-công nghệ. Chuỗi liên hoàn đó là tiền đề để các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu, doanh nghiệp nỗ lực gắn kết quả nghiên cứu với thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng với khoa học-công nghệ là động lực chính.

Thực tế nhiều địa phương, doanh nghiệp đã triển khai gắn kết khoa học-công nghệ với thực tiễn sản xuất, kinh doanh mang lại kết quả tích cực.

Thực tế nhiều địa phương, doanh nghiệp đã triển khai gắn kết khoa học-công nghệ với thực tiễn sản xuất, kinh doanh mang lại kết quả tích cực. Điển hình tại Đồng Tháp, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều chương trình hành động và triển khai đổi mới mô hình phát triển nông nghiệp với động lực từ khoa học-công nghệ. Trong đó, giải pháp triển khai bản đồ giám sát sinh trưởng lúa bằng công nghệ viễn thám vệ tinh quét định kỳ 12 ngày/lần kết hợp mô hình AI tạo sinh cho phép theo dõi thời gian thực tình trạng của từng thửa ruộng từ lúc gieo mạ đến khi lúa chín đã cung cấp thông tin chuẩn xác về vùng nguyên liệu cho doanh nghiệp liên kết thu mua, giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị và phân phối ít nhất từ 1 đến 2% giá trị toàn ngành. Dựa trên tổng giá trị sản xuất lúa gạo của tỉnh Đồng Tháp đạt khoảng 22.147 tỷ đồng thì giải pháp nêu trên đem lại giá trị thặng dư khoảng 222 tỷ đồng/năm.

Đối với doanh nghiệp, tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ở khối truyền tải điện đã ứng dụng dùng UAV và AI để phát hiện bất thường trong giám sát kiểm tra lưới điện 220 kV và 500 kV đã giảm được 22,4% số nhân công khi quản lý vận hành đường dây 500 kV và 17,9% đối với đường dây 220 kV. Tại khối phân phối điện, các Tổng công ty Điện lực đẩy mạnh triển khai hệ thống SCADA/DMS, công-tơ điện tử, hệ thống đo xa, dịch vụ điện trực tuyến và chăm sóc khách hàng số giảm 13 nghìn nhân công, ước tính tiết kiệm 2.700 tỷ đồng mỗi năm...

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Bảo Sơn, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, đơn vị đang xây dựng hệ sinh thái khoa học-công nghệ toàn diện và cơ chế thúc đẩy thương mại hóa theo chuỗi “Lab to Market”. Trong đó, giai đoạn 2021-2025, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện 252 hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng giá trị ước đạt 87 tỷ đồng.

Đáng chú ý, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đơn vị đã thúc đẩy mô hình hợp tác “ba nhà” theo hướng bài bản hóa danh mục sản phẩm và tăng tỷ lệ chuyển giao, trong năm 2025, đã đóng gói 50 sản phẩm khoa học-công nghệ thuộc các lĩnh vực AI/IoT, bán dẫn và vật liệu tiên tiến để triển khai chuyển giao và thương mại hóa. Trên cơ sở đó, Đại học Quốc gia Hà Nội xây dựng chương trình nghiên cứu AI giai đoạn 2025-2030 theo hướng phát triển sản phẩm ứng dụng phục vụ giáo dục, y tế, nông nghiệp và phát triển bền vững, có tiềm năng chuyển giao, thương mại hóa…

Tiếp tục đổi mới để xứng với tiềm năng

Các chủ trương, chính sách đã được mở ra, việc vận hành trong thực tiễn đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu là động lực chính cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng cho nên vấn đề thương mại hóa, gắn kết nghiên cứu khoa học với thị trường cần tiếp tục có những đổi mới thiết thực để tương xứng tiềm năng.

Dẫn chứng Samsung đã đưa vào vận hành Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D) tại Hà Nội với khoảng 2.200 nhân sự; Bosch Global Software Technologies tại Việt Nam có khoảng 4.000 nhân sự, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Vũ Hồng Quân cho rằng, kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia chuỗi R&D tiêu chuẩn quốc tế, cho sản phẩm và thị trường toàn cầu nhưng lại chưa được kết nối đủ mạnh với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, để thương mại hóa sản phẩm khoa học-công nghệ trở thành một năng lực vận hành thật sự của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cần đổi mới chuyển từ tư duy giới thiệu công nghệ sang tư duy giải bài toán thị trường; hình thành chủ thể trung gian vận hành thương mại hóa công nghệ, trong đó cơ chế một cửa kết nối công nghệ…

Tiến sĩ Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) chia sẻ, trong bối cảnh hiện nay, năng lực cạnh tranh quốc gia không chỉ được quyết định bởi một số doanh nghiệp dẫn đầu, mà còn phụ thuộc vào mặt bằng năng suất và năng lực công nghệ của hàng triệu doanh nghiệp đang trực tiếp vận hành nền kinh tế thực. Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển quốc gia trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ tư duy phát triển công nghệ đơn lẻ sang tư duy phổ cập năng lực công nghệ cho cộng đồng doanh nghiệp. Cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm ứng dụng và thương mại hóa khoa học-công nghệ.

Thời gian qua, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng với nhiều công trình nghiên cứu đã được thương mại hóa, ứng dụng trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, công nghệ thông tin, tự động hóa, năng lượng và y dược; nhiều sản phẩm khoa học-công nghệ từng bước tham gia thị trường và phục vụ doanh nghiệp, địa phương, cộng đồng.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thời gian qua, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng với nhiều công trình nghiên cứu đã được thương mại hóa, ứng dụng trong các lĩnh vực như công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, công nghệ thông tin, tự động hóa, năng lượng và y dược; nhiều sản phẩm khoa học-công nghệ từng bước tham gia thị trường và phục vụ doanh nghiệp, địa phương, cộng đồng.

Tuy nhiên, để tương xứng với tiềm năng, yêu cầu phát triển mới, Viện Hàn lâm mong muốn các doanh nghiệp chủ động đặt hàng nghiên cứu, đặt bài toán công nghệ từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường. Đây chính là cơ sở quan trọng để các nhà khoa học định hướng nghiên cứu sát thực tiễn hơn, tạo ra các sản phẩm có khả năng thương mại hóa cao hơn và giải quyết trực tiếp những thách thức của doanh nghiệp và xã hội.

Phát triển khoa học-công nghệ cần hướng mạnh vào việc giải quyết những bài toán thực tiễn của nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần đưa khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Kết luận tại phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, năm thứ hai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Yêu cầu đặt ra rất cấp bách, khối lượng công việc rất lớn, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc nhận diện vấn đề mà phải thật sự bắt tay vào tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo ra kết quả cụ thể, đo lường được, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng chung của quốc gia.

XUÂN KỲ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bai-2-gan-ket-nghien-cuu-khoa-hoc-voi-thi-truong-post971992.html