Bài 2: Liên kết phát triển - nền tảng giữ vững niềm tin ở vùng cao

Liên kết phát triển ở Quài Tở không chỉ là sự điều chỉnh về tổ chức hành chính sau sáp nhập. Đó là quá trình tái cấu trúc không gian phát triển vùng cao, nơi cách nghĩ, cách làm và cả niềm tin của người dân đang từng bước thay đổi từ chính những chuyển động của đời sống.

Đồng chí Trần Tiến Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy thăm vườn cà phê của người dân xã Quài Tở.

Đồng chí Trần Tiến Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy thăm vườn cà phê của người dân xã Quài Tở.

Từ hạ tầng, sản xuất đến dịch vụ công, những đổi thay sau sắp xếp đơn vị hành chính đang cho thấy một thực tế rõ ràng: khi người dân nhìn thấy cơ hội phát triển ngay trên quê hương mình, niềm tin sẽ không còn là hô hào, cổ động, mà trở thành cảm nhận cụ thể trong đời sống hàng ngày.

Tuy vậy, phía sau những chuyển động ấy vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục được lấp đầy để quá trình phát triển ở vùng cao đi xa hơn và bền vững hơn. Điều thay đổi sâu sắc nhất sau sáp nhập ở Quài Tở không nằm ở mô hình tổ chức, mà ở cách người dân nhìn nhận về khả năng phát triển của chính quê hương mình. Từ không gian sản xuất phân tán, thiếu liên kết, Quài Tở đang từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với hạ tầng và dịch vụ công được cải thiện. Đây không chỉ là chuyển động kinh tế, mà còn là sự dịch chuyển trong nhận thức của người dân về cơ hội phát triển ngay trên mảnh đất vùng cao.

Ông Vàng Dũng Dủa ở bản Xá Tự, nhớ lại thời điểm mới nghe chủ trương sáp nhập, ông từng lo xã rộng hơn thì chính quyền sẽ xa dân hơn. Nhưng thực tế sau đó đã làm ông thay đổi suy nghĩ. Các tuyến đường liên bản được mở rộng. Cán bộ cơ sở xuống bản thường xuyên hơn. Nhiều thủ tục hành chính được giải quyết nhanh và thuận lợi hơn.

“Giờ tôi hiểu, điều quan trọng không phải xã rộng hay hẹp, mà là dân có được hưởng lợi gì không” - ông Dủa chia sẻ.

Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của việc sắp xếp đơn vị hành chính không nằm ở thay đổi địa giới, mà nằm ở khả năng tổ chức lại nguồn lực phục vụ phát triển và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Ở vùng cao, người dân có thể chấp nhận khó khăn, nhưng sẽ rất khó đặt niềm tin nếu cuộc sống không nhìn thấy cơ hội đổi thay.

Người dân Quài Tở chăm sóc mắc ca, thu hoạch cà phê.

Người dân Quài Tở chăm sóc mắc ca, thu hoạch cà phê.

Trên các triền đồi Quài Tở, diện tích ngô, sắn trước đây đang dần được thay thế bằng cà phê và mắc ca. Quá trình chuyển đổi không diễn ra đồng loạt, nhưng đã hình thành rõ xu hướng phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với định hướng sản xuất hàng hóa. Đến nay, toàn xã có hơn 1.635ha cà phê và trên 793ha mắc ca. Riêng năm 2025, địa phương trồng mới hơn 640ha cà phê và 310ha mắc ca. Từ những quả đồi từng canh tác manh mún, Quài Tở từng bước hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn hơn, mở ra kỳ vọng về hướng sinh kế ổn định cho người dân vùng cao.

Nếu trước đây sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, thì hiện nay nhiều hộ dân đã bắt đầu tiếp cận tư duy thị trường: Quan tâm tới kỹ thuật canh tác, chất lượng sản phẩm và đầu ra tiêu thụ. Việc sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật giá cả, trao đổi kỹ thuật và kết nối thị trường trở nên phổ biến hơn ở nhiều bản.

Anh Mùa A Nhìa từng nhiều năm đi làm thuê ngoài tỉnh, nay trở về phát triển kinh tế tại quê nhà cho biết, trước đây anh từng nghĩ ở quê sẽ rất khó thay đổi cuộc sống. Nhưng khi giao thông thuận lợi, các chính sách về hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS của Nhà nước thiết thực, hiệu quả, cán bộ hướng dẫn kỹ thuật canh tác sát hơn, anh quyết định chuyển gần 2ha lúa nương sang trồng cà phê. “Trước kia mình chỉ nghĩ phải đi xa mới có cơ hội. Bây giờ làm bài bản thì ở quê cũng có thể ổn định cuộc sống”, anh nói.

Sự dịch chuyển của lao động trẻ từ “rời bản” sang “trở về bản” phản ánh một thay đổi quan trọng hơn cả kinh tế: Người dân bắt đầu nhìn thấy tương lai của mình ngay tại quê hương và chính lúc đó những luận điệu gieo rắc hoài nghi cũng dần mất đi đất tồn tại.

Ở Quài Tở, niềm tin của người dân không hình thành từ khẩu hiệu, mà từ những thay đổi có thể nhìn thấy trong đời sống hàng ngày. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của Quài Tở giảm còn 19,56%; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 45 triệu đồng/năm. Toàn bộ các bản đã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt trên 99,5%. Các tuyến giao thông liên bản được hoàn thành, tạo thuận lợi rõ rệt cho sinh hoạt và sản xuất.

Đêm có điện đầu tiên ở bản Háng Tàu, ánh sáng bật lên giữa sương núi không chỉ là một công trình hạ tầng, mà còn là dấu mốc cho thấy đời sống vùng cao bắt đầu đổi khác.

Trong nhiều ngôi nhà vùng cao Quài Tở, ánh điện đầu tiên được người dân nhớ như dấu mốc của một giai đoạn phát triển.

Trong nhiều ngôi nhà vùng cao Quài Tở, ánh điện đầu tiên được người dân nhớ như dấu mốc của một giai đoạn phát triển.

Cùng với đó, công tác cải cách hành chính có bước chuyển rõ rệt. Hơn 2.100 hồ sơ được tiếp nhận và giải quyết, tỷ lệ đúng hạn đạt gần 99,72%; 100% hồ sơ đủ điều kiện được tiếp nhận trực tuyến. Bộ máy chính quyền cơ sở vận hành theo hướng gần dân hơn, sát cơ sở.

Có ý kiến từng cho rằng sáp nhập sẽ khiến chính quyền xa dân hơn. Nhưng thực tế ở Quài Tở lại cho thấy điều ngược lại. Số lượt cán bộ xuống cơ sở tăng lên rõ rệt; nhiều công việc được giải quyết ngay tại bản, giảm đáng kể thời gian đi lại của người dân.

Chuyện giữ vững niềm tin ở cơ sở, đôi khi một cán bộ xuống bản đúng lúc còn có sức thuyết phục hơn nhiều lời tuyên truyền chung chung.

Tuy vậy, Quài Tở vẫn đang đối diện không ít thách thức. Địa bàn rộng khiến áp lực quản lý tăng lên. Khoảng cách giữa các khu dân cư còn xa. Một bộ phận người dân lớn tuổi chưa thích ứng với dịch vụ công trực tuyến. Hạ tầng ở một số khu vực vẫn chưa đồng bộ, nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu. Công tác nắm bắt tâm tư Nhân dân ở một số thời điểm chưa thật sự kịp thời; tuyên truyền có nơi còn hình thức. Khoảng trống thông tin vì thế vẫn có thể bị lợi dụng để tạo ra những nhận thức sai lệch về chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy.

Khi người dân chưa cảm nhận rõ thành quả phát triển trong đời sống, tâm lý hoài nghi rất dễ bị kích động bởi các thông tin xuyên tạc trên không gian mạng. Khoảng trống phát triển nếu không được lấp đầy bằng hiệu quả phục vụ Nhân dân sẽ rất dễ bị biến thành khoảng trống niềm tin.

Niềm tin của người dân không được giữ bằng những lời giải thích đơn thuần; nó được thể hiện bằng con đường tới bản, bằng mùa vụ có đầu ra, bằng ánh điện sáng trong mỗi nếp nhà và bằng sự hiện diện thực chất của chính quyền cơ sở. Vì vậy, liên kết phát triển không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn là nền tảng trực tiếp để giữ vững niềm tin xã hội từ cơ sở.

Với vị trí nằm trên trục kết nối đèo Pha Đin - cửa ngõ phía Đông của tỉnh Điện Biên, Quài Tở đang từng bước hình thành không gian phát triển mới gắn với cây công nghiệp, nông nghiệp hàng hóa và du lịch cộng đồng vùng cao.

Không chỉ chuyển động ở lĩnh vực sản xuất, địa phương bắt đầu hình thành hướng phát triển du lịch cộng đồng dân tộc Mông gắn với du lịch trải nghiệm. Tháng 3/2026, bản Lồng chính thức khánh thành bản du lịch cộng đồng - bản du lịch cộng đồng người Mông đầu tiên của tỉnh Điện Biên, mở ra kỳ vọng đưa bản Lồng trở thành điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch của tỉnh, từng bước khẳng định thương hiệu du lịch cộng đồng vùng cao gắn với bản sắc văn hóa đặc trưng. Khi văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, người dân cũng bắt đầu nhìn thấy giá trị của việc giữ gìn bản sắc ngay trên chính quê hương mình.

Liên kết phát triển ở Quài Tở vì thế không chỉ là kết nối hạ tầng hay sản xuất, mà còn là quá trình kết nối giữa niềm tin của người dân với tương lai của chính quê hương mình.

Và từ những chuyển động đang hiện hữu trên các bản làng vùng cao hôm nay, Quài Tở đang bước sang một giai đoạn mới: Giai đoạn mà niềm tin không chỉ được giữ bằng chủ trương đúng, mà bằng những đổi thay khi chính người dân là chủ thể, tự mình cảm nhận trong cuộc sống mỗi ngày.

Lường Phượng

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/chinh-tri/bai-2-lien-ket-phat-trien-nen-tang-giu-vung-niem-tin-o-vung-cao