Bài 2: Những thay đổi góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nếu ở các lớp đầu cấp tiểu học, trung học cơ sở, áp lực chủ yếu nằm ở chuyện học gần nhà, chọn trường, chọn lớp, thì ở cấp trung học phổ thông (lớp 10), áp lực đó lại khác.

Cuộc họp phụ huynh tại Trường cao đẳng công nghệ cao Hà Nội.
Áp lực tuyển sinh nhiều năm qua không chỉ đến từ việc thiếu trường ở những khu vực đông dân cư, mà sâu xa hơn là tâm lý coi trường công như con đường hướng đến một tương lai thuận lợi hơn.
Nhưng khi giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên hay các mô hình đào tạo mới đang mở ra nhiều cơ hội phát triển khác nhau, câu chuyện sẽ không còn là “đỗ hay trượt”, mà là người học phù hợp với con đường nào.
Những lựa chọn ngoài trường công lập
Chỉ có khoảng 60% học sinh lớp 9 được tuyển vào lớp 10 các trường trung học phổ thông (trung học phổ thông) công lập trên địa bàn Hà Nội trong năm học tới đang được nhắc đến như một “ngưỡng cửa” đầy áp lực. Nhưng nếu đặt con số đó trong tổng thể thì bức tranh lại khác, ngoài hơn 81.000 chỉ tiêu công lập, còn có hơn 34.000 chỉ tiêu ở khối tư thục, gần 12.000 chỉ tiêu tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên (giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên), cùng với hệ thống các trường cao đẳng nghề có mô hình 9+ đang ngày càng mở rộng.
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Nguyễn Quang Tuấn nhìn nhận: Nếu nhìn tổng thể, Hà Nội cơ bản không thiếu chỗ học sau trung học cơ sở. Tỷ lệ vào công lập chỉ phản ánh quy mô của một loại hình trường, không phải là giới hạn cơ hội học tập.
Nhưng điều khiến nhiều phụ huynh lo lắng không hẳn là chuyện “có chỗ học hay không”, mà là con mình sẽ bước vào một môi trường như thế nào nếu không vào được trường công lập.
Mùa tuyển sinh năm trước thiếu 0,25 điểm ở nguyện vọng 1, con trai chị Nguyễn Thị Đan (xã Đại Thanh, Hà Nội) chuyển sang theo học tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên Thanh Trì. Lúc đầu cả nhà buồn lắm. Nhưng điều khiến chị Đan lo không chỉ là chuyện học hành, đó là những ký ức về một môi trường từng gắn với định kiến “học sinh cá biệt”.
Những tuần đầu, chị thường xuyên đến trường chỉ để quan sát xem con học ra sao, có bị bắt nạt không... Nhưng sau gần một học kỳ, cảm giác lo lắng giảm dần, sự yên tâm tăng lên. Ở đó, môi trường giờ khá quy củ, nghiêm túc không khác gì một trường trung học phổ thông công lập...
Trong khi giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên là lựa chọn khiến nhiều phụ huynh băn khoăn, thì với một số học sinh, đây là quyết định chủ động để theo đuổi định hướng riêng. Đinh Dương Tiến Đạt, học sinh lớp 12 A3, chọn học tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên Thanh Trì để có thêm thời gian theo đuổi piano chuyên nghiệp. “Ở đây em chỉ học 7 môn văn hóa cho nên có thêm thời gian tập trung cho âm nhạc. Quan trọng hơn là em vẫn được thi tốt nghiệp trung học phổ thông và có thể học tiếp lên cao”, Đạt chia sẻ.
Một ngày của Đạt gần như kín, học văn hóa buổi sáng và thời gian luyện đàn buổi chiều… Như vậy học tại giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên không phải lựa chọn “bất đắc dĩ”, đó là cách để cân bằng giữa việc học văn hóa và định hướng riêng của mình. Tuy vậy, điều khiến khá nhiều em e ngại nhất lại nằm ở chính cái tên “giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên”. “Giá như trung tâm có một cái tên khác, giống như một trường trung học phổ thông bình thường thì chúng em sẽ đỡ ngại hơn”, Đạt nói. Cụm từ “giáo dục thường xuyên” vẫn gắn với nhiều ấn tượng không tích cực từ trước đây, mặc dù thực tế mô hình học tập hiện nay đã thay đổi khá nhiều.
Tại Hà Nội, mỗi năm có khoảng 30.000 học sinh theo học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông. Những năm gần đây, nhiều trung tâm có tỷ lệ tốt nghiệp trên 90%, không ít học sinh đạt điểm cao, đỗ đại học; thậm chí đã có những thủ khoa, á khoa hay học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi bước ra từ khối giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên.
Thực tế, tại nhiều cơ sở đào tạo gắn kết chặt với doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp thường đạt từ 80 đến 90%, thậm chí còn cao hơn ở các ngành kỹ thuật. Học viên ra trường không những có việc làm ngay mà còn làm đúng nghề, thu nhập ổn định và khả năng phát triển lâu dài.
Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh, Hiệu trưởng Trường cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội
Nếu giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên giúp người học vượt qua một lần “lỡ nhịp” để tìm đúng con đường của mình, thì các trường cao đẳng nghề lại mở ra một hướng phát triển khác: Đi sớm hơn để đến nhanh hơn. Không phải là một “phương án thay thế”, lựa chọn này được nhìn nhận như một lộ trình riêng, với cơ hội phát triển riêng.
Theo phân tích của Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh, Hiệu trưởng Trường cao đẳng nghề công nghệ cao Hà Nội, không phải ai cũng cần đi hết lộ trình 12 năm phổ thông rồi vào đại học. Nếu học sinh muốn học sớm để đi làm sớm và tự lập sớm thì hệ 9+ đáp ứng đúng nhu cầu đó. Thực tế, tại nhiều cơ sở đào tạo gắn kết chặt với doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp thường đạt từ 80 đến 90%, thậm chí còn cao hơn ở các ngành kỹ thuật. Học viên ra trường không những có việc làm ngay mà còn làm đúng nghề, thu nhập ổn định và khả năng phát triển lâu dài.
Nhiều phụ huynh hiện vẫn băn khoăn giữa học cao đẳng nghề hay theo mô hình giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên. Nhưng thực tế, đây không hẳn là chuyện bên nào tốt hơn bên nào. Mỗi hướng đi phù hợp với một mục tiêu, điều kiện và cách chuẩn bị khác nhau của từng gia đình, từng học sinh. giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên phù hợp với những học sinh muốn đi theo lộ trình học văn hóa đầy đủ để thi tốt nghiệp, xét tuyển đại học sau này, đồng thời giảm bớt áp lực, chi phí và có thêm thời gian định hướng.
Trong khi đó, mô hình 9+ ở các trường cao đẳng nghề lại thiên nhiều về kỹ năng thực hành, gắn với doanh nghiệp và khả năng đi làm sớm. Nhưng hướng này thường hợp với những học sinh đã có định hướng nghề nghiệp khá rõ và sẵn sàng tự lập sớm hơn. Vì vậy, câu chuyện không nằm ở việc mô hình nào tốt hơn. Quan trọng vẫn là học sinh phù hợp với con đường nào và gia đình muốn đồng hành với con theo cách nào.
Từ lựa chọn cá nhân đến chiến lược quốc gia
Một chuyển động khác cho thấy khá rõ ở các đô thị lớn là khối trường trung học phổ thông ngoài công lập giờ không còn bị coi là phương án “dự phòng” như trước, nhất là khi Hà Nội có hơn 34.000 chỉ tiêu ngoài công lập trong năm học tới. Điểm đáng chú ý nằm ở cách nhiều trường đang tự tạo dấu ấn riêng cho mình. Thay vì chỉ đi theo chương trình phổ thông thông thường, nhiều trường phát triển theo những hướng khác nhau như song ngữ, quốc tế, tăng cường ngoại ngữ, tích hợp STEM hay chú trọng kỹ năng và trải nghiệm cho học sinh. Lớp học ít học sinh hơn, giáo viên theo sát hơn, cơ sở vật chất được đầu tư khá bài bản. Với nhiều phụ huynh, đây là lựa chọn chủ động nếu phù hợp với điều kiện gia đình và định hướng học tập của con.
Rút kinh nghiệm từ những năm trước, mùa tuyển sinh 2026-2027, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội yêu cầu các trường không được thu các khoản như “giữ chỗ” hay “đặt cọc” khi chưa cung cấp dịch vụ. Với nhiều phụ huynh, đây là một căn cứ để nhìn rõ hơn cách một cơ sở giáo dục ứng xử với người học và gia đình.
Nhìn vào các lựa chọn hiện nay như giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, cao đẳng nghề hay trường trung học phổ thông ngoài công lập có thể thấy những mô hình này không còn “lép vế” như cách nhiều người từng nghĩ. Khi được nhìn từ kết quả học tập, khả năng có việc làm hay sự trưởng thành của học sinh, các hướng đi ấy đang dần thoát khỏi tâm lý “phương án phía sau” để trở thành lựa chọn phù hợp với nhiều nhóm người học khác nhau.
Sự thay đổi này diễn ra trong bối cảnh giáo dục đang đứng trước những yêu cầu mới về nguồn nhân lực. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao và giúp người học thích ứng tốt hơn với những thay đổi rất nhanh của thị trường lao động. Tinh thần đó tiếp tục được nhấn mạnh trong Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, khi yêu cầu phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao gắn với các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Điều đó cũng đồng nghĩa, giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, cao đẳng nghề hay các mô hình đào tạo linh hoạt sẽ ngày càng trở thành một phần quan trọng của hệ thống giáo dục, thay vì chỉ được nhìn như những lựa chọn “dự phòng”. Nhưng khi các hướng đi này dần được nhìn nhận đúng hơn, yêu cầu về chất lượng cũng đặt ra rõ hơn. Người học và phụ huynh không chỉ cần một chỗ học, mà muốn thấy được đầu ra thực tế, cơ hội việc làm và khả năng phát triển lâu dài sau khi lựa chọn.
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Nguyễn Văn Hiền chia sẻ: “Không có nghề nào cao hay thấp. Chỉ có người giỏi nghề hay không. Một người giỏi nghề sẽ có vị trí và giá trị trong xã hội. Giáo dục cần giúp người học đạt được điều đó”.
(Tiếp theo và hết) ()











