Bài 2: Trung tâm Năng lượng tái tạo cần khung chính sách đủ tin cậy
Trao đổi với PetroTimes, bà Nethe Veje Laursen, Tham tán về Năng lượng, Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội đã có những phân tích rõ về yếu tố quy hoạch cảng, hạ tầng dùng chung, phát triển chuỗi cung ứng, thu hút đầu tư và doanh nghiệp dẫn dắt khi xây dựng Trung tâm Năng lượng tái tạo từ kinh nghiệm của Đan Mạch với cảng Esbjerg.

PV: Theo bà, Việt Nam cần thiết kế mô hình quản trị và phân công vai trò giữa các bên như thế nào để các Trung tâm Năng lượng tái tạo có thể vận hành hiệu quả?
Bà Nethe Veje Laursen: Đan Mạch không thiết kế sẵn một mô hình quản trị ngay từ đầu. Ở cấp quốc gia, Đan Mạch xác định phương hướng và thể hiện cam kết, và cảng Esbjerg đã điều chỉnh và phát triển phù hợp với định hướng đó. Cam kết sớm và nhất quán về việc giảm phụ thuộc vào dầu mỏ, tiếp theo là tổ chức các đợt đấu thầu điện gió ngoài khơi thường xuyên từ giữa những năm 2000, đã tạo ra thị trường giúp quá trình chuyển đổi của cảng đem lại hiệu quả.
Chính phủ Đan Mạch đã đưa ra tầm nhìn chính trị dài hạn; cơ quan quản lý bảo đảm sự chắc chắn trong trung hạn, đảm bảo tính cởi mở và duy trì đối thoại thường xuyên với thị trường; đồng thời hỗ trợ việc thử nghiệm và kiểm chứng. Tất cả những yếu tố này đã hỗ trợ quá trình chuyển đổi thành công.
Chính quyền thành phố Esbjerg chủ động chuyển hóa định hướng và khuôn khổ chính sách thành mô hình kinh doanh khả thi. Với vai trò sở hữu cảng, chính quyền thành phố có thể bảo trợ cho các khoản đầu tư lớn cần thiết và hỗ trợ các quy trình như quy hoạch sử dụng đất, cấp phép nạo vét và bảo vệ bờ biển. Cơ quan phát triển kinh tế địa phương, Business Esbjerg, đã xây dựng hình ảnh thành phố là "đô thị năng lượng" của Đan Mạch để thu hút nguồn nhân lực và kỹ năng phù hợp.
Bản thân cảng là một cảng công tự chủ, thuộc sở hữu của chính quyền thành phố nhưng được vận hành độc lập theo nguyên tắc thương mại, tái đầu tư lợi nhuận thay vì chia cổ tức. Điều này giúp cảng duy trì tính kỷ luật về vốn như một doanh nghiệp tư nhân, đồng thời vẫn thực hiện sứ mệnh phục vụ lợi ích công, qua đó tạo điều kiện cho các khoản đầu tư dài hạn. Điều này cũng có nghĩa là cảng đóng vai trò như một “đơn vị kiến tạo hệ thống” hoặc “đơn vị hỗ trợ hệ thống”, giải quyết những điểm nghẽn đặc thù của từng doanh nghiệp thay vì chỉ đơn thuần cho thuê không gian cầu cảng.
Các doanh nghiệp trong ngành đảm nhiệm phần còn lại, với các nhà phát triển đóng vai trò neo giữ hệ sinh thái và các nhà cung cấp đi theo. Việc đào tạo lại lực lượng lao động được thực hiện chung, phản ánh truyền thống hợp tác của Đan Mạch giữa chính quyền, ngành công nghiệp và các đối tác xã hội.
Tóm lại, Đan Mạch có ba yếu tố: định hướng rõ ràng ở cấp quốc gia, một chính quyền địa phương có cam kết và khả năng chuyển hóa định hướng đó thành mô hình kinh doanh khả thi, và một đơn vị vận hành cảng tự chủ về thương mại.
Cấu trúc này được hình thành và phát triển theo thời gian thay vì được thiết kế ngay từ đầu, với sự hỗ trợ của hoạt động đào tạo lại và nâng cao kỹ năng hiệu quả. Đây đã cho thấy là một sự kết hợp hiệu quả, và những yếu tố tương tự chắc chắn có thể là những nội dung mà Việt Nam có thể nghiên cứu kỹ hơn để xác định cách thức áp dụng trong bối cảnh này.
PV: Kinh nghiệm Esbjerg cho thấy cần chuẩn bị hạ tầng và nguồn vốn đi trước nhu cầu, đồng thời phải có danh mục dự án đủ ổn định để hình thành phương án kinh doanh dài hạn, thay vì phụ thuộc vào một dự án điện gió đơn lẻ. Theo bà, Việt Nam nên bắt đầu từ đâu để tạo được “độ chắc” cho mô hình Trung tâm Năng lượng tái tạo?
Bà Nethe Veje Laursen: Điểm khởi đầu tại Đan Mạch là một khung chính sách đáng tin cậy, vì đây là yếu tố khuyến khích và tạo điều kiện cho các khoản đầu tư quy mô lớn.
Việt Nam đã đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng cho quá trình chuyển đổi và tăng trưởng xanh, bao gồm các mục tiêu rõ ràng về điện gió ngoài khơi, được đưa vào Quy hoạch phát triển điện VIII (PDP8) điều chỉnh từ tháng 4/2025. Tham vọng phát triển điện gió ngoài khơi đã được đưa ra từ Quy hoạch điện trước đó, cho thấy Việt Nam đã xác định rõ định hướng mong muốn của mình.
Tuy nhiên, các mục tiêu riêng lẻ không tạo ra một danh mục dự án. Các mục tiêu này cần được cụ thể hóa thành một cơ chế đấu thầu hoặc cơ chế giá có tính dự báo, nhằm bảo đảm nguồn cung liên tục các dự án điện gió ngoài khơi cùng loại.

Do điện gió ngoài khơi vẫn còn cách một khoảng đáng kể để có thể được đưa vào vận hành tại Việt Nam, một nguy cơ thực tế là các mục tiêu về điện gió ngoài khơi có thể không đạt được đúng thời hạn, qua đó cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi của các cảng sang phục vụ điện gió ngoài khơi.
Một ví dụ từ Đan Mạch có thể cho thấy điều gì xảy ra khi kỳ vọng của chính phủ và điều kiện thị trường không đồng nhất. Trong đợt đấu thầu điện gió ngoài khơi năm 2024 của Đan Mạch, các điều kiện đưa ra không hỗ trợ một phương án kinh doanh khả thi, dẫn đến việc không nhận được hồ sơ dự thầu nào. Trước tình hình đó, chính phủ Đan Mạch đã xem xét lại các điều kiện thị trường và áp dụng trở lại các cơ chế hỗ trợ của nhà nước.
Sau đợt đấu thầu không nhận được hồ sơ dự thầu vào năm 2024, chính phủ Đan Mạch đã rà soát lại các điều kiện thị trường trước khi tiến hành đợt đấu thầu mới đối với 1,8 GW điện gió ngoài khơi. Quá trình đấu thầu này đã hoàn tất vào giữa năm 2026 và có hai nhà phát triển dự án đã được lựa chọn. Kinh nghiệm này cho thấy ngay cả một thị trường đã phát triển cũng có thể mất niềm tin của nhà đầu tư nếu khung chính sách suy yếu.
Về cơ chế đầu tư, chúng tôi nhận thấy các cảng của Đan Mạch đã được đầu tư trước khi nhu cầu thực tế hình thành, điều này là cần thiết do thời gian chuẩn bị của các dự án hạ tầng rất dài. Tuy nhiên, nguồn vốn chỉ có thể được huy động vào nơi có một khung chính sách đáng tin cậy giúp giảm rủi ro cho nhà đầu tư.
Điều này có được nhờ cơ chế quản trị cho phép cảng tái đầu tư, kết hợp với các tín hiệu chính sách ở cấp quốc gia tạo cơ sở để dự báo nhu cầu trong tương lai. Các doanh nghiệp dẫn dắt thị trường cũng đóng một vai trò đáng kể. Ví dụ, Ørsted, trước đây là công ty dầu khí DONG Energy thuộc sở hữu nhà nước, cùng với công ty Vattenfall đã đóng vai trò là các doanh nghiệp chủ chốt đặt cơ sở tại Esbjerg, qua đó thu hút các nhà cung cấp cùng đến đặt cơ sở hoạt động tại cảng.

Thái tử kế vị Đan Mạch Frederik (đứng giữa) chứng kiến Lễ ký kết xúc tiến thương mại và đầu tư giữa hai thành phố Esbjerg và Hải Phòng. (Ảnh: TTXVN)
Để Việt Nam có thể khai thác đầy đủ tiềm năng phát triển và tạo ra một ngành tăng trưởng mới, nhiều bài học từ Đan Mạch có thể mang lại những kinh nghiệm có giá trị, đặc biệt trong trường hợp các cảng hiện hữu được cải tạo và nâng cấp. Hải Phòng và Esbjerg đã và đang thực hiện điều này. Hai thành phố đã ký Biên bản ghi nhớ vào năm 2022 nhằm tạo điều kiện chia sẻ kinh nghiệm giữa hai thành phố và hai cảng. Chương trình Hợp tác Đối tác Năng lượng Việt Nam - Đan Mạch (DEPP) cũng là một cơ chế thúc đẩy hợp tác, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo thông qua chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác giữa các bên đồng cấp.
Nếu phải nêu những bài học quan trọng nhất từ quá trình chuyển đổi của Esbjerg, đó sẽ là thiết lập một khuôn khổ tạo điều kiện hình thành một danh mục dự án liên tục, đồng thời bảo đảm có một khuôn khổ hỗ trợ cho phép thực hiện các khoản đầu tư sớm.
PV: Trân trọng cảm ơn bà!


