Bài 2: Xây dựng chiến lược phát triển dài hạn
Để công nghệ sinh học thật sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới, việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt.

Nghiên cứu các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao phục vụ sản xuất sản phẩm cho nông nghiệp trong phòng thí nghiệm. (Ảnh THẾ ĐẠI)
Điều đó đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá từ đổi mới đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài đến tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất, qua đó từng bước hình thành đội ngũ nhân lực công nghệ sinh học đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Kết nối "ba nhà" tạo đột phá
Dự báo trong 5 đến 10 năm tới, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nhu cầu nhân lực công nghệ sinh học này sẽ chuyển từ tăng về số lượng sang yêu cầu cao hơn về chất lượng và trình độ chuyên sâu. Theo đó, nhân lực công nghệ sinh học không chỉ làm việc trong phòng thí nghiệm mà còn tham gia toàn bộ chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh, Giám đốc Trung tâm Nguồn gien, Phó Trưởng khoa Công nghệ sinh học, Hóa học và Kỹ thuật môi trường, Đại học Phenikaa cho rằng, nhân lực công nghệ sinh học không chỉ cần nền tảng chuyên môn vững về sinh học mà còn phải được trang bị kiến thức liên ngành về kỹ thuật, công nghệ số, pháp luật, quản trị và kinh doanh. Điều này giúp họ làm việc hiệu quả trong các nhóm đa ngành, đồng thời giải quyết các vấn đề gắn với sản xuất, thương mại hóa và quản lý công nghệ.
Bên cạnh chuyên môn, các kỹ năng phối hợp liên ngành, tư duy sáng tạo, khởi nghiệp và năng lực quản lý dự án rất cần được chú trọng. Đặc biệt, năng lực hội nhập quốc tế thông qua ngoại ngữ, sẽ giúp nhân lực công nghệ sinh học tham gia sâu hơn vào các mạng lưới hợp tác và chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhân lực công nghệ sinh học không chỉ cần nền tảng chuyên môn vững về sinh học mà còn phải được trang bị kiến thức liên ngành về kỹ thuật, công nghệ số, pháp luật, quản trị và kinh doanh.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh, Giám đốc Trung tâm Nguồn gien, Phó Trưởng khoa Công nghệ sinh học, Hóa học và Kỹ thuật môi trường, Đại học Phenikaa
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thủy Tiên, Trưởng Bộ môn Công nghệ sinh học, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: “Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, đặt hàng nghiên cứu và đào tạo, đồng thời có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo.
Các trường đại học cần đổi mới chương trình theo định hướng phát triển khoa học, công nghệ và nhu cầu thị trường, bảo đảm chuẩn đầu ra gắn với năng lực thực hành. Về phía doanh nghiệp, cần tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập thực chất và cùng đầu tư các phòng thí nghiệm hợp tác nghiên cứu”.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Huy, Phó Trưởng khoa Khoa học Sự sống, Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), cần xây dựng chiến lược phát triển nhân lực dài hạn và cơ chế đặt hàng đào tạo; đồng thời có thể thí điểm các trung tâm đào tạo công nghệ sinh học số với cơ chế đầu tư linh hoạt, cho phép tiếp nhận và chuyển giao thiết bị nghiên cứu tiên tiến từ các nước phát triển nhằm tối ưu chi phí và rút ngắn khoảng cách công nghệ.
Các cơ sở đào tạo cần nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và đổi mới mô hình tổ chức theo hướng “giảng viên chia sẻ”, tăng cường mời chuyên gia quốc tế, kỹ sư trưởng từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, gắn đào tạo với các dự án nghiên cứu và thương mại hóa theo mô hình “từ phòng thí nghiệm đến thị trường”. Chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt theo hướng tích lũy tín chỉ và chứng chỉ chuyên sâu, phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Ở góc độ doanh nghiệp, cần chuyển từ vai trò “người sử dụng lao động” sang “đối tác đầu tư” trong đào tạo thông qua việc xây dựng các phòng thí nghiệm vệ tinh, phòng thí nghiệm liên kết với trường đại học, đồng tài trợ học phí và hình thành các quỹ hỗ trợ đào tạo gắn với ưu đãi thuế. Việc phát triển các nền tảng phòng thí nghiệm ảo và số hóa hồ sơ năng lực người học sẽ góp phần mở rộng cơ hội thực hành, giúp doanh nghiệp đánh giá nguồn nhân lực dựa trên kỹ năng thực tế.
Hiện USTH và Công ty Dược phẩm Thái Minh đã xây dựng mô hình phòng thí nghiệm liên kết, trong đó hai bên chia sẻ cơ sở vật chất, cùng đầu tư trang thiết bị và phối hợp triển khai các dự án nghiên cứu phát triển sản phẩm mới. Doanh nghiệp tài trợ các đề tài nghiên cứu theo đặt hàng, tham gia hỗ trợ phát triển và thương mại hóa sản phẩm, đồng thời cử cán bộ chuyên môn tham gia giảng dạy, hướng dẫn sinh viên thực tập.
Ngược lại, nhà trường cử giảng viên hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ nghiên cứu và phát triển, đồng thời kết nối doanh nghiệp với các đối tác trong và ngoài nước. Mô hình hợp tác này được kỳ vọng sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, góp phần phát triển tiềm lực của các bên trong lĩnh vực công nghệ sinh học, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực và tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Hoàn thiện cơ chế, thu hút và trọng dụng nhân tài
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, nhiều chủ trương, chính sách mới đã và đang tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ sinh học.
Theo các chuyên gia, để những định hướng, chính sách đó thật sự đi vào cuộc sống, các cơ sở đào tạo cần chủ động đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường gắn kết với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Khi tận dụng hiệu quả các hành lang pháp lý mới, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để xây dựng đội ngũ nhân lực công nghệ sinh học có trình độ cao, làm chủ công nghệ, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó đóng góp thiết thực cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chiến lược phát triển công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, nhiều chủ trương, chính sách mới đã và đang tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ sinh học.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cần có những chính sách đủ mạnh và mang tính đột phá. Trước hết, Nhà nước cần xây dựng cơ chế đãi ngộ đặc thù đối với nhân lực công nghệ sinh học, nhất là các nhà khoa học đầu đàn, tổng công trình sư, nhằm thu hút và giữ chân nhân tài, tránh tình trạng chảy máu chất xám tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trọng điểm về công nghệ sinh học như Viện Hàn lâm, các Đại học Quốc gia,… để nâng cao chất lượng nghiên cứu và đào tạo. Đồng thời, việc đầu tư cho lĩnh vực này cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải.
Theo ông Hà, việc ban hành Nghị định 231/2025/NĐ-CP về tuyển chọn và sử dụng tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng được xem là bước tiến quan trọng, tạo cơ chế mới để phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Nghị định không chỉ xác lập các tiêu chuẩn rõ ràng về năng lực, uy tín và sản phẩm thực tiễn như sáng chế, công nghệ được thương mại hóa, mà còn tạo điều kiện để các nhà khoa học được trao quyền chủ động hơn trong quyết định giải pháp kỹ thuật, qua đó rút ngắn thời gian triển khai các dự án khoa học, công nghệ lớn, việc kết hợp nghiên cứu với đào tạo sẽ giúp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tiến sĩ Phạm Châu Huỳnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng cho rằng, cần tăng cường quyền tự chủ và tính linh hoạt cho các đơn vị nghiên cứu trong quản lý và sử dụng nguồn lực. Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng hiện đang nghiên cứu, đề xuất một số cơ chế phù hợp nhằm xây dựng chính sách thu hút chuyên gia, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển của đơn vị trong thời gian tới.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bai-2-xay-dung-chien-luoc-phat-trien-dai-han-post948510.html










