Bài 4: Nhận diện những 'điểm nghẽn' đang kìm hãm động lực tăng trưởng

Hạ tầng số ngày càng được mở rộng, nhiều nền tảng công nghệ và ứng dụng AI đã được triển khai, nhưng hiệu quả chuyển đổi số chưa đồng đều giữa các ngành, địa phương và doanh nghiệp. Thực tế đang cho thấy, không phải cứ đầu tư công nghệ là có ngay năng suất và giá trị gia tăng. Những hạn chế về dữ liệu, nhân lực, nguồn vốn và phương thức tổ chức thực hiện đang trở thành rào cản đối với khả năng chuyển hóa nguồn lực số thành động lực tăng trưởng.

Hạ tầng số ngày càng được mở rộng, nhiều nền tảng công nghệ và ứng dụng AI đã được triển khai, nhưng hiệu quả chuyển đổi số chưa đồng đều giữa các ngành, địa phương và doanh nghiệp. Thực tế đang cho thấy, không phải cứ đầu tư công nghệ là có ngay năng suất và giá trị gia tăng. Những hạn chế về dữ liệu, nhân lực, nguồn vốn và phương thức tổ chức thực hiện đang trở thành rào cản đối với khả năng chuyển hóa nguồn lực số thành động lực tăng trưởng.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát thực tế để ghi nhận ý kiến "điểm nghẽn" tại các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Thu Hằng

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát thực tế để ghi nhận ý kiến "điểm nghẽn" tại các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Thu Hằng

Có công nghệ nhưng chưa tạo được giá trị tương xứng

Một trung tâm điều hành thông minh được đầu tư hiện đại, có nhiều màn hình theo dõi và dữ liệu hiển thị, nhưng nếu không giúp lãnh đạo địa phương xử lý công việc nhanh hơn, ra quyết định chính xác hơn thì giá trị mang lại sẽ đến đâu? Tương tự, một doanh nghiệp triển khai AI nhưng hoạt động sản xuất, kinh doanh không thay đổi đáng kể, liệu đã có thể coi là chuyển đổi số thành công?

Những câu hỏi ấy phản ánh khoảng cách đang tồn tại giữa đầu tư công nghệ với kết quả thực chất. Tại Chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long thẳng thắn đề cập thực trạng nhiều trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) đã được triển khai ở các địa phương nhưng lãnh đạo chưa sử dụng hiệu quả, bởi các hệ thống này chưa giải quyết đúng bài toán quản lý, cũng như nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long

Thực tế triển khai các trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) tại một số địa phương cho thấy, dù được đầu tư, hệ thống chưa phát huy hiệu quả như mong muốn khi chưa đáp ứng đúng nhu cầu quản lý, điều hành

Mục tiêu cuối cùng là đưa chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp

Mục tiêu cuối cùng là đưa chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp

Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, trước đây, chuyển đổi số có lúc được triển khai theo cách doanh nghiệp công nghệ có sản phẩm gì thì giới thiệu, đưa sản phẩm đó vào địa phương. Cách làm này dẫn tới tình trạng giải pháp công nghệ chỉ giải quyết được một phần vấn đề, chưa đáp ứng trọn vẹn nhu cầu thực tế.

Tình trạng tương tự cũng xuất hiện trong khu vực doanh nghiệp. Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, ĐBQH tỉnh Phú Thọ Khóa XVI Nguyễn Cao Sơn, mặc dù ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến AI, nhưng khả năng đưa công nghệ vào hoạt động thường xuyên còn hạn chế. Ông cho biết, trong số doanh nghiệp đã ứng dụng AI, có tới 61% vẫn dừng ở mức thử nghiệm; khoảng 60% doanh nghiệp trong những khảo sát quốc tế đã đầu tư nhưng gần như chưa thu được hiệu quả rõ rệt.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân tỉnh Phú Thọ Nguyễn Cao Sơn. Ảnh: Trần Tâm

Trong số doanh nghiệp đã ứng dụng AI, có tới 61% vẫn dừng ở mức thử nghiệm; khoảng 60% doanh nghiệp trong những khảo sát quốc tế đã đầu tư nhưng gần như chưa thu được hiệu quả rõ rệt

Điều này cho thấy, việc ứng dụng công nghệ mới không đồng nghĩa với năng lực làm chủ và khai thác công nghệ. Một doanh nghiệp có thể sử dụng AI để hỗ trợ soạn thảo, tổng hợp tài liệu hoặc xử lý một số công việc, nhưng nếu dữ liệu giữa các bộ phận không được kết nối, quy trình phối hợp chưa thay đổi thì hiệu quả đạt được sẽ bị giới hạn trong từng khâu riêng lẻ.

Tương tự, nếu mỗi bộ phận sử dụng một phần mềm quản lý khác nhau, dữ liệu không được chia sẻ, doanh nghiệp có thể phải tiếp tục nhập lại thông tin hoặc xử lý thủ công ở các công đoạn trung gian. Khi đó, lợi ích tiết kiệm thời gian tại một khâu có thể bị triệt tiêu bởi chi phí phát sinh ở những khâu khác.

PGS.TS. Bùi Văn Dũng, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng, khoảng cách giữa đầu tư công nghệ và tăng trưởng thực chất thường xuất hiện khi việc đánh giá mới chú trọng số dự án, nền tảng, thiết bị hoặc kinh phí, mà chưa đo lường đầy đủ những kết quả kinh tế tạo ra.

PGS.TS. Bùi Văn Dũng - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Nếu chưa giải quyết được tình trạng phân tán dữ liệu, nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số khó tạo ra hiệu quả tương xứng

Công an xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa nỗ lực tuyên truyền cho người dân về những tiện tích của chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Công an xã Hồi Xuân, tỉnh Thanh Hóa nỗ lực tuyên truyền cho người dân về những tiện tích của chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Theo đại biểu, công nghệ chỉ tạo giá trị khi giải quyết một điểm nghẽn cụ thể và làm thay đổi cách vận hành. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xem xét lại cách thức lựa chọn, đầu tư và đánh giá các dự án chuyển đổi số. Một hệ thống được nghiệm thu về mặt kỹ thuật chưa đồng nghĩa với việc đã phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Giá trị sau đầu tư cần tiếp tục được kiểm chứng thông qua mức độ sử dụng, khả năng tiết kiệm chi phí, chất lượng phục vụ và những thay đổi cụ thể trong hoạt động của cơ quan, doanh nghiệp.

Vấn đề không phải phủ nhận những thành tựu đã đạt được, mà là nhận diện đúng những khoảng trống đang làm giảm hiệu quả của nguồn lực đầu tư.

Những rào cản từ dữ liệu, nguồn lực đến con người

Thực tiễn triển khai định danh điện tử quốc gia cũng cho thấy, khoảng cách giữa phát triển nền tảng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết.

Ngay cả với một nền tảng đã có quy mô sử dụng lớn và bước đầu tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, hiệu quả chuyển đổi số vẫn phụ thuộc vào sự đồng bộ của thể chế, chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và mức độ sử dụng thực chất

Ngay cả với một nền tảng đã có quy mô sử dụng lớn và bước đầu tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, hiệu quả chuyển đổi số vẫn phụ thuộc vào sự đồng bộ của thể chế, chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và mức độ sử dụng thực chất

Lớp học Bình dân học vụ số ở xã Luận Thành được tổ chức vào các buổi tối để hướng dẫn người dân cài đặt các nền tảng, ứng dụng VNeID và các nền tảng trực tuyến để người dân quen với việc thực hiện các thủ tục hành chính số. Ảnh: Mỹ Hạnh

Lớp học Bình dân học vụ số ở xã Luận Thành được tổ chức vào các buổi tối để hướng dẫn người dân cài đặt các nền tảng, ứng dụng VNeID và các nền tảng trực tuyến để người dân quen với việc thực hiện các thủ tục hành chính số. Ảnh: Mỹ Hạnh

Theo Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an, VNeID đang từng bước chuyển từ một ứng dụng định danh điện tử thành điểm tiếp cận thống nhất giữa người dân, doanh nghiệp với các dịch vụ số. Đến nay, nền tảng đã phát triển 85 tiện ích, ghi nhận hơn 500 triệu lượt truy cập, với khoảng 6 triệu người sử dụng mỗi ngày. Đáng chú ý, dữ liệu dân cư và định danh đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như giao thông, ngân hàng, y tế, thuế và viễn thông; giá trị kinh tế bước đầu đo lường được ước khoảng 12.110 tỷ đồng mỗi năm.

Tuy nhiên, theo Đại tá Ngô Như Cường, giá trị của VNeID không nằm ở số lượng tiện ích được tích hợp mà ở hiệu quả thực tế người dân, doanh nghiệp nhận được. Để nền tảng tiếp tục phát huy vai trò, vẫn còn bốn điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Trước hết là yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế về định danh, xác thực điện tử, giá trị pháp lý của danh tính số và cơ chế chia sẻ dữ liệu. Cùng với đó, tình trạng tồn tại nhiều hệ thống, nhiều chuẩn kết nối, dữ liệu phân tán và chất lượng dữ liệu chưa đồng đều đang hạn chế khả năng liên thông, khai thác thông tin.

Một vấn đề khác là khả năng tham gia thực chất của người dân vào môi trường số. Chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi người dân không dừng lại ở việc có tài khoản định danh điện tử, mà phải sử dụng thường xuyên, chủ động kiểm soát dữ liệu và được hưởng lợi từ các dịch vụ số. Bên cạnh đó, khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới cũng đặt ra những yêu cầu mới khi nhu cầu đi lại, lao động, học tập, đầu tư và giao dịch quốc tế ngày càng gia tăng.

Công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa hướng dẫn công dân sử dụng Kiosk thông minh trong giải quyết thủ tục hành chính. Ảnh: Tố Phương

Công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa hướng dẫn công dân sử dụng Kiosk thông minh trong giải quyết thủ tục hành chính. Ảnh: Tố Phương

Những vấn đề trên cho thấy, ngay cả với một nền tảng đã có quy mô sử dụng lớn và bước đầu tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, hiệu quả chuyển đổi số vẫn phụ thuộc vào sự đồng bộ của thể chế, chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và mức độ sử dụng thực chất. Nếu những điều kiện này chưa được bảo đảm, tiềm năng của các nền tảng số khó được khai thác đầy đủ để giảm chi phí xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Trao đổi về những điểm nghẽn trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân chỉ ra năm thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi số hiện nay, gồm dữ liệu, nền tảng, hạ tầng, khả năng ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp và nguồn nhân lực.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân

Tại nhiều bộ, ngành, địa phương, nhất là cấp xã, đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu về chuyển đổi số còn thiếu, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý, vận hành và khai thác các hệ thống công nghệ

Đối với rào cản về dữ liệu, Bộ trưởng cho biết, mặc dù nhiều cơ sở dữ liệu đã được xây dựng, song tiến độ thực hiện tại một số bộ, ngành, lĩnh vực còn chậm. Trong khi đó, các nền tảng số phát triển chưa đồng đều, có nơi vẫn theo hướng riêng lẻ, thiếu khả năng kết nối và chia sẻ. Đây là rào cản có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả ứng dụng công nghệ, đặc biệt là AI. Bởi, một hệ thống phân tích chỉ có thể đưa ra kết quả đáng tin cậy khi dữ liệu đầu vào đủ chính xác, được cập nhật và có khả năng liên thông. Nếu dữ liệu bị phân tán hoặc không thống nhất, công nghệ dù hiện đại cũng khó hỗ trợ ra quyết định hiệu quả.

Theo PGS.TS. Bùi Văn Dũng - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, dữ liệu phân tán và thiếu chuẩn làm giảm hiệu quả đầu tư theo hai cách: các cơ quan, doanh nghiệp phải thu thập cùng một thông tin nhiều lần, trong khi dữ liệu đã có lại chưa được khai thác để cải thiện dịch vụ và hỗ trợ ra quyết định. Các nền tảng không kết nối còn làm tăng chi phí chuyển đổi và cản trở khả năng mở rộng giải pháp công nghệ.

Như vậy, dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến trách nhiệm quản lý, cập nhật, chia sẻ và khai thác. Nếu chưa giải quyết được tình trạng phân tán dữ liệu, nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số khó tạo ra hiệu quả tương xứng.

Cùng với dữ liệu, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số vẫn còn những hạn chế. Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, năng lực tính toán hiệu năng cao phục vụ nghiên cứu AI, dữ liệu và tình trạng vùng lõm sóng là những vấn đề cần tiếp tục xử lý.

Các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình vận hành. Ảnh: Chí Tuấn

Các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình vận hành. Ảnh: Chí Tuấn

Đối với doanh nghiệp, khả năng hấp thụ công nghệ cũng chưa đồng đều. Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, ĐBQH tỉnh Phú Thọ Khóa XVI Nguyễn Cao Sơn, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa mới ở mức 1 - 2 trên thang năm mức của Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số doanh nghiệp, trong khi nhóm doanh nghiệp tiên phong đã đạt mức 3 - 4. Khoảng 69% doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chuyển đổi số ở mức cơ bản, chủ yếu sử dụng một số công cụ riêng lẻ.

Sự chênh lệch này cho thấy, công nghệ có thể đã sẵn sàng nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách hiệu quả. Cũng theo ông Sơn, 54% doanh nghiệp còn thiếu kỹ năng số và AI, trong khi chỉ 13% đo lường được hiệu quả đầu tư công nghệ. Đây là những hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lựa chọn, triển khai và khai thác các giải pháp số.

Một doanh nghiệp thiếu nhân lực có kỹ năng sẽ gặp khó khăn ngay từ việc xác định công nghệ phù hợp. Khi dữ liệu chưa được tổ chức và quy trình chưa được chuẩn hóa, hiệu quả ứng dụng càng khó được bảo đảm. Còn nếu không đo lường được kết quả, doanh nghiệp cũng thiếu cơ sở để quyết định tiếp tục đầu tư hoặc mở rộng quy mô ứng dụng.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng kiểm tra, ghi nhận khó khăn trong thực hiện chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính

Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng kiểm tra, ghi nhận khó khăn trong thực hiện chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính

Đặc biệt, nguồn nhân lực được Bộ trưởng Vũ Hải Quân đánh giá là thách thức quan trọng nhất trong chuyển đổi số hiện nay. Tại nhiều bộ, ngành, địa phương, nhất là cấp xã, đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu về chuyển đổi số còn thiếu, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý, vận hành và khai thác các hệ thống công nghệ.

Những hạn chế này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thiếu nhân lực làm giảm khả năng khai thác dữ liệu; dữ liệu không đồng bộ hạn chế hiệu quả của các nền tảng; khả năng ứng dụng công nghệ chưa cao khiến nguồn lực đầu tư khó phát huy hết giá trị. Trong khi đó, tốc độ giải ngân đầu tư cho chuyển đổi số vẫn còn chậm, tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các nhiệm vụ.

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, trong nhóm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tốc độ giải ngân cho chuyển đổi số thuộc nhóm chậm nhất. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải xem xét cả những vướng mắc trong tổ chức triển khai và khả năng đưa nguồn lực đầu tư vào hoạt động thực chất.

Để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế hai con số, điều quan trọng không chỉ là thu hẹp khoảng cách về hạ tầng và công nghệ, mà còn phải khắc phục khoảng cách giữa đầu tư và hiệu quả, giữa khả năng tiếp cận và năng lực sử dụng. Nhận diện đúng những điểm nghẽn ấy chính là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới chính sách và khơi thông các nguồn lực, đưa chuyển đổi số từ tiềm năng phát triển thành giá trị kinh tế thực chất.

Chí Tuấn- Đào Cảnh- Hải Thanh- Trần Tâm- Diệp Anh
Duy Thông trình bày

Chí Tuấn - Đào Cảnh - Hải Thanh - Trần Tâm - Diệp Anh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/bai-4-nhan-dien-nhung-diem-nghen-dang-kim-ham-dong-luc-tang-truong-10440988.html