Bài dự thi cuộc thi viết 'Chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm': Chạm vào Tổ quốc

Có đến Bản Giốc, nơi cột mốc, con sông vùng biên ải mới hiểu rằng Tổ quốc không chỉ để nhìn, để gọi tên, mà còn để chạm - bằng tất cả sự gần gũi, thiêng liêng

Đứng trước thác Bản Giốc tung bọt trắng xóa, tôi nhận ra biên giới không chỉ là một đường kẻ trên bản đồ. Nó hiện hữu rất rõ ràng trong tiếng thác đổ, trong lá cờ đỏ sao vàng bay giữa vùng trời biên cương và trong dòng sông Quây Sơn lặng lẽ uốn quanh - nơi người dân tộc Tày bao đời sinh sống, giữ gìn dải đất biên cương này.

Trải nghiệm đặc biệt

Để đến được Trùng Khánh - vùng biên giới xa xôi của tỉnh Cao Bằng, tôi mất trọn một ngày di chuyển: đáp chuyến bay sớm nhất ra Hà Nội rồi lên ô tô, đi qua rất nhiều đèo dốc. Đáp lại câu hỏi của tôi khi nào đến Bản Giốc, anh lái xe bảo cứ đếm đủ 7 con đèo sẽ tới nơi: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Mã Phục… Tôi thong thả ngắm nhìn từng cánh rừng, từng dải núi nối tiếp nhau. Đến mỗi địa điểm thú vị, anh lại dừng xe để chúng tôi nghỉ chân, chụp hình, tiện kể vài câu chuyện góp vui: chuyện về người anh hùng Nùng Trí Cao, chuyện về những loài cây đặc sản ở từng địa danh. Cao Bằng vì thế hiện lên thật gần gũi, sinh động qua lời kể của một người bản địa chân chất, hiền lành, quen thuộc từng khúc đường quanh co.

Nắng sớm đánh thức Trùng Khánh, điện thoại báo nhiệt độ chỉ khoảng 13 độ C. Thác Bản Giốc ẩn hiện trong màn sương bồng bềnh, lãng đãng như tiên cảnh nơi trần thế. Trước mắt tôi là khung cảnh mênh mông: một bên là những thửa ruộng sau mùa gặt, một bên là dòng nước từ trên cao đổ xuống qua nhiều tầng đá vôi, tạo nên những màn bụi nước trắng xóa như sương, lung linh, huyền ảo dưới ánh nắng.

Không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp tự nhiên, thác Bản Giốc còn nằm ở vị trí địa lý vô cùng đặc biệt: trên đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á, cao hơn 60 m, với đoạn dốc dài nhất khoảng 30 m, chia thành nhiều tầng đá vôi nối tiếp nhau và trải rộng hàng trăm mét. Bên cạnh thác Bản Giốc là mốc 836 mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng.

Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài 1.449,566 km, bắt đầu từ Điện Biên và kết thúc ở Quảng Ninh. Trong số 7 tỉnh biên giới phía Bắc mà đường biên này đi qua, Cao Bằng là tỉnh có nhiều cột mốc nhất: 634 cột mốc (469 mốc chính, 165 mốc phụ). Trong đó, mốc 836 là cột mốc cuối cùng được cắm của đường biên giới hai nước.

Cột mốc 836 phân định biên giới hai nước Việt Nam - Trung Quốc

Cột mốc 836 phân định biên giới hai nước Việt Nam - Trung Quốc

Đây là cột mốc đôi cùng số: phía Việt Nam là 836(2), phía Trung Quốc là 836(1). Do là cặp mốc đôi cùng số, cả hai mặt của mốc 836(2) đều khắc chữ "Việt Nam". Con số 2001 trên mốc không phải năm đặt mốc 836 mà ghi theo sự kiện năm 2001, khi Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền. Thực tế, cột mốc 836 được cắm vào ngày 14-1-2009.

Dòng thác Bản Giốc chính là ranh giới tự nhiên, lấy trung điểm dòng thác làm đường biên giới giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc. Theo Hiệp định Hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc, người dân hai nước được phép đi lại tham quan trên dòng thác nhưng không được lên bờ. Chính vì vậy, một khi đến Bản Giốc, chu du trên những chiếc thuyền ngắm dải đất biên cương, du khách có một trải nghiệm rất đặc biệt, rất đỗi thiêng liêng.

Thác Bản Giốc hùng vĩ giữa núi rừng Đông Bắc

Thác Bản Giốc hùng vĩ giữa núi rừng Đông Bắc

Về nơi đầu nguồn dòng Quây Sơn

Ngắm nhìn dòng thác Bản Giốc tung bọt trắng xóa, tôi tự hỏi dòng chảy nào đã tạo nên cảnh tượng tráng lệ ấy. Bị thôi thúc bởi sự tò mò, tôi dành một ngày lang thang về thượng nguồn sông Quây Sơn - nơi dòng nước êm đềm, trữ tình len lỏi qua đồi núi đá vôi, các thửa ruộng bậc thang, bản làng của người Tày, Nùng tại Ngọc Côn, Phong Nậm.

Mùa gặt vừa qua, cả cánh đồng bao la chỉ còn trơ gốc rạ. Anh lái xe bảo rằng nếu đến sớm hơn vài tuần, chúng tôi đã có thể tận mắt chiêm ngưỡng bức tranh mùa vàng Cao Bằng trải khắp thung lũng đôi bờ sông Quây Sơn.

Sông Quây Sơn bắt nguồn từ Quảng Tây (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam ở đoạn gần cửa khẩu Pò Peo. Nước sông xanh màu ngọc bích, soi bóng những bản làng bình yên, những lũy tre xanh, từng đàn trâu, ngựa thong dong gặm cỏ và những bụi lau trắng phất phơ. Nhìn dòng nước hiền hòa nơi thượng nguồn, khó ai nghĩ rằng có đoạn dòng chảy ấy gặp những khối đá vôi khổng lồ, rồi đổ xuống tạo thành thác Bản Giốc hùng vĩ giữa núi rừng Đông Bắc. Từ thác Bản Giốc, sông Quây Sơn tiếp tục chảy men theo biên giới Việt Nam - Trung Quốc, rồi lại đổ về phía Trung Quốc ở cửa khẩu Lý Vạn, khép lại một hành trình lãng du trọn vẹn nơi đất Việt.

Dọc theo dòng Quây Sơn, đồng bào Tày, Dao dựng nhiều chiếc cọn để cõng nước tưới cho những thửa ruộng bậc thang. Cũng nhờ những cọn nước này, lúa, ngô và các loại hoa màu trên cánh đồng dọc đôi bờ sông quanh năm đủ nước, vụ nào cũng bội thu. Mùa lúa chín, ở những đoạn có thác nước nhỏ ven bờ, người dân dựng cối giã gạo bằng sức nước. Sau một đêm, thóc trong cối được giã thành gạo trắng tinh - một cách lao động giản dị mà thông minh của cư dân vùng núi.

Trên dòng Quây Sơn, những đàn vịt bơi lội tung tăng khiến tôi nhớ đến món ăn nổi tiếng của vùng biên viễn: vịt quay Trùng Khánh. Vịt cỏ được nuôi thả tự nhiên, ướp gia vị, nhồi lá mắc mật rồi quay trên than hoa cho lớp da vàng giòn, thơm lừng. Người Tày - Nùng có câu: "Bươn chiêng kin nựa cáy, bươn chất kin nựa pết", tức là: Tết tháng giêng ăn gà, Tết tháng bảy ăn vịt. Những món ăn ấy không chỉ là hương vị ẩm thực mà còn là nét văn hóa gắn với đời sống người dân vùng biên.

Rời dòng sông Quây Sơn, chúng tôi ghé thăm làng đá Khuổi Ky - một ngôi làng nhỏ nép mình dưới chân núi đá vôi, nơi thời gian dường như trôi chậm hơn. Con đường dẫn vào làng được lát đá; những bậc thang, hàng rào và cả tường nhà cũng được dựng từ đá núi. Trong sắc xanh của núi rừng, những ngôi nhà sàn mái ngói âm dương hiện lên cổ kính, mộc mạc như bước ra từ một câu chuyện xa xưa.

Người dân trong làng kể rằng những ngôi nhà sàn đá này đã tồn tại từ hàng trăm năm trước, vào khoảng cuối thế kỷ XVI, khi nhà Mạc lên vùng đất Cao Bằng xây dựng thành lũy. Đến nay, cả làng chỉ còn 14 căn nhà sàn đá vẫn giữ gần như nguyên vẹn dáng vẻ ban đầu.

Làng đá Khuổi Ky ngày nay không chỉ đón khách trong nước mà còn thu hút nhiều du khách quốc tế. Trong những nếp nhà đá cổ, khách và chủ nhà ngồi quây quần bên chén trà nóng, thưởng thức chiếc bánh rán vừa ra lò, trò chuyện bằng vài câu tiếng Anh bập bõm xen lẫn những nụ cười thân thiện. Có người còn khoác thử bộ áo chàm truyền thống của người Tày để lưu lại những bức ảnh kỷ niệm giữa không gian làng đá cổ kính. Tôi chợt nhận ra những ngôi nhà đá trầm mặc ấy không chỉ là di sản văn hóa của người Tày, mà còn là dấu ấn của một cộng đồng đã bám đất, bám làng nơi vùng biên suốt nhiều thế kỷ.

Chuyến công tác dài ngày rồi cũng đến lúc phải nói lời tạm biệt Bản Giốc, chia tay sông Quây Sơn - nơi tôi chạm tay vào cột mốc biên giới và hiểu rằng nơi Tổ quốc bắt đầu đôi khi lại rõ ràng và sống động đến thế: một con sông, một ngọn thác, một ngôi làng và những con người đang lặng lẽ bám đất nơi phên dậu Tổ quốc.

Và có lẽ, Tổ quốc không chỉ để nhìn, để gọi tên, mà còn để chạm - bằng tất cả sự gần gũi, thiêng liêng và rất đỗi đời thường như thế.

Sông Quây Sơn xanh màu ngọc bích, soi bóng những bản làng bình yên

Sông Quây Sơn xanh màu ngọc bích, soi bóng những bản làng bình yên

Bài và ảnh: TRẦN THỊ NGỌC HUYỀN

Nguồn NLĐ: https://nld.com.vn/bai-du-thi-cuoc-thi-viet-chu-quyen-quoc-gia-bat-kha-xam-pham-cham-vao-to-quoc-196260328202347655.htm