Bản đồ số kết nối công chúng với các giá trị văn hóa
Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam mở thêm kênh kết nối công chúng với di sản, bảo tàng và các hoạt động văn hóa trên cả nước.

Nền tảng hướng tới kết nối thông tin về di sản, bảo tàng, lễ hội, sự kiện văn hóa nghệ thuật, thể thao và các hành trình du lịch di sản trên phạm vi cả nước.
Bộ VH,TT&DL vừa cho ra mắt Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam, được triển khai tại địa chỉ www.cmap.vn, nền tảng hướng tới kết nối thông tin về di sản, bảo tàng, lễ hội, sự kiện văn hóa nghệ thuật, thể thao và các hành trình du lịch di sản trên phạm vi cả nước.
Giá trị của nền tảng sẽ được đo bằng khả năng đưa thông tin thành những trải nghiệm thực tế.
Khơi mở hành trình trải nghiệm văn hóa
Theo Bộ VH,TT&DL, Việt Nam có nguồn lực văn hóa phong phú với hệ thống di sản, bảo tàng, nhà hát, làng nghề, lễ hội và hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, thông tin còn phân tán, khiến nhiều chương trình nghệ thuật, trải nghiệm làng nghề hay trưng bày chuyên đề chưa tiếp cận được đông đảo công chúng.
Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam hướng tới thu hẹp khoảng trống thông tin bằng cách tập hợp dữ liệu trên một hệ thống. Người dùng có thể tra cứu di sản, bảo tàng, sự kiện, lễ hội, hoạt động thể thao quần chúng và hành trình du lịch di sản theo địa điểm, thời gian, chủ đề; đồng thời khám phá các địa chỉ văn hóa gần nơi sinh sống hoặc tại điểm đến mới.
Giá trị của bản đồ không chỉ là xác định vị trí điểm đến mà còn giúp người dùng lựa chọn hoạt động, chủ động lên kế hoạch trải nghiệm. Từ một gia đình tìm chương trình nghệ thuật cuối tuần, người trẻ khám phá làng nghề đến du khách kết hợp thăm di tích với ẩm thực, lễ hội và đời sống địa phương, mỗi người đều có thể tìm thấy hành trình phù hợp.
Khi được cập nhật đầy đủ, các hoạt động như tour đêm tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trải nghiệm nghề truyền thống hay chương trình nghệ thuật địa phương sẽ có thêm cơ hội tiếp cận công chúng. Những địa chỉ quen thuộc với người dân sở tại và cả hoạt động quy mô nhỏ cũng có thể được nhiều du khách biết đến hơn.

Khởi động Bản đồ số Văn hóa Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Lâm Thị Phương Thanh mong muốn Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam giúp người dân, du khách dễ dàng tìm kiếm và lựa chọn hoạt động văn hóa theo địa điểm, thời gian, chủ đề. Từ thông tin trên bản đồ, công chúng có thêm cơ hội đến với di sản, nhà hát, gặp gỡ nghệ nhân và khám phá những câu chuyện văn hóa.
Ứng dụng công nghệ trong văn hóa không chỉ dừng ở lưu trữ tư liệu hay giới thiệu di sản trực tuyến, mà cần mở rộng cơ hội để công chúng tìm hiểu và trải nghiệm. Bảo tàng chỉ thực sự được kết nối với công chúng khi có thêm khách tham quan; làng nghề phát huy giá trị khi thu hút du khách, sản phẩm được biết đến và nghệ nhân có cơ hội truyền nghề.
Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam còn mở thêm cơ hội kết nối văn hóa với du lịch và công nghiệp văn hóa. Thông tin về di sản, lễ hội, làng nghề và dịch vụ trải nghiệm được tập hợp sẽ giúp địa phương quảng bá tài nguyên, doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm.
Với cộng đồng, đây cũng là cơ hội giới thiệu rộng rãi những giá trị văn hóa đang được gìn giữ, thực hành, đồng thời tạo thêm sinh kế. Tuy nhiên, lợi ích chỉ thành hiện thực khi có sản phẩm chất lượng, trải nghiệm phù hợp và sự tham gia thực chất của người dân.

Khi được cập nhật đầy đủ, nền tảng sẽ giúp các tour đêm, trải nghiệm làng nghề và chương trình nghệ thuật địa phương tiếp cận công chúng rộng rãi hơn.
Lấy trải nghiệm làm thước đo hiệu quả
Theo giới chuyên gia, việc ra mắt nền tảng mới chỉ là bước đầu, bởi hiệu quả phụ thuộc vào khả năng vận hành và chất lượng dữ liệu. Thông tin sai lệch hoặc chậm cập nhật về địa điểm, thời gian, nội dung, giá vé và điều kiện tham gia sẽ làm giảm giá trị tra cứu, khiến công chúng khó chủ động lựa chọn hoạt động văn hóa.
Vì vậy, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL đề nghị các địa phương, đơn vị văn hóa chủ động cập nhật thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời; xác định rõ người chịu trách nhiệm và duy trì công việc hằng ngày. Mỗi thông tin được công bố cần giúp người dân biết rõ có hoạt động gì, diễn ra ở đâu, khi nào và có thể tham gia bằng cách nào.
Để thực hiện điều đó, Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam cần sự phối hợp thường xuyên của các cơ quan quản lý, bảo tàng, nhà hát, ban quản lý di tích, đơn vị tổ chức sự kiện và các chủ thể văn hóa tại cơ sở.
Việc chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm tính thống nhất giữa các địa phương, cải thiện khả năng tìm kiếm và tạo điều kiện để cộng đồng đóng góp thông tin cũng rất cần thiết. Định hướng kết nối nền tảng với hệ thống định danh điện tử VNeID và các nền tảng số liên quan cần tiếp tục được hoàn thiện.
Khả năng tiếp cận cũng cần được tính đến. Người cao tuổi có thể chưa quen tra cứu trên nền tảng số, trong khi các cơ sở văn hóa nhỏ và chủ thể di sản còn hạn chế về nhân lực, kỹ năng cập nhật dữ liệu. Do đó, cần hướng dẫn và hỗ trợ để các đơn vị cơ sở tham gia thuận lợi, tránh tình trạng thông tin chỉ tập trung ở thiết chế lớn, điểm đến nổi tiếng.

Tính đến sáng 2/11, Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam đã công bố 404 sự kiện tại 34/34 tỉnh, thành phố.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, hiệu quả của Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam cần được đo bằng việc người dân tiếp cận văn hóa thuận tiện hơn, các hoạt động thu hút ngày càng nhiều người tham gia và chất lượng trải nghiệm đủ hấp dẫn để công chúng muốn quay trở lại, chia sẻ với người khác. Đây là thước đo thiết thực hơn số lượng dữ liệu được đưa lên hệ thống hay lượt truy cập đơn thuần.
Mỗi người dân có thể bắt đầu hành trình khám phá văn hóa từ một di sản, làng nghề hay sự kiện gần nơi mình sống. Khi những địa chỉ trên bản đồ trở thành trải nghiệm thực tế, di sản có thêm người biết đến, nghệ thuật có thêm khán giả, giá trị truyền thống được tiếp nối. Đó cũng là ý nghĩa lớn nhất mà nền tảng hướng tới, đưa văn hóa đến gần hơn với mỗi người và hiện diện sâu sắc hơn trong đời sống cộng đồng.
Sự ra đời của Nền tảng Bản đồ số Văn hóa Việt Nam gắn với chủ trương đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển văn hóa được nêu tại Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đảng và Nhà nước xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
