Bàn giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu
Sáng 22-3, tại TP. Cần Thơ, Báo Tiền Phong phối hợp với UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành là Tập đoàn Keppel tổ chức Hội thảo An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trước biến đổi khí hậu.

Quang cảnh hội thảo.
Tại hội thảo, các đại biểu cùng trao đổi, thảo luận xoay quanh các nội dung như: Nhận diện các nguy cơ, từ suy giảm nguồn nước, xâm nhập mặn, sụt lún đất đến những tác động sâu rộng đến sinh kế và môi trường; phân tích những điểm nghẽn trong quản trị tài nguyên nước, từ cơ chế điều phối liên vùng, quy hoạch, đến chính sách và nguồn lực. Đặc biệt là đề xuất các giải pháp gắn với thực tiễn đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam cho biết, trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân.
Đối với ĐBSCL, nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chiếm tới 95%; trong khi nguồn nội sinh chỉ đóng góp khoảng 5%, tương đương 22 tỷ m³ và chủ yếu tập trung vào mùa mưa.
Trong giai đoạn từ năm 2001 - 2025, dung tích trữ nước có sự thay đổi đáng kể, từ khoảng 15 tỷ m³ lên 65 - 73 tỷ m³, theo quy hoạch có thể đạt tới 110,4 tỷ m³. Tuy nhiên, song song với đó là sự gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn lưu vực.
Dự báo đến năm 2040, tổng diện tích này có thể tăng thêm 16%, đạt gần 6,7 triệu ha. Riêng tại Campuchia và Lào, diện tích nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể, gây áp lực lớn lên nguồn nước.
Theo số liệu tại trạm Tân Châu giai đoạn 1990 - 2025 cho thấy, xu thế lũ trên sông Mê Kông đang giảm rõ rệt. Từ sau năm 2012 đến nay, hầu như không còn xuất hiện lũ lớn vượt báo động 3, thay vào đó là chuỗi năm lũ nhỏ kéo dài.

Các chuyên gia phát biểu tại hội thảo.
Cùng với đó, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013. Đáng chú ý, dòng chảy mùa khô về ĐBSCL có xu hướng tăng, nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn đà xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4 g/l có thể vào sâu khoảng 55,5 km vào năm 2030 và khoảng 62,5 km vào năm 2050.
Trước thực trạng này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại. Các giải pháp trọng tâm gồm nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.
Về công trình, cần tiếp tục đầu tư các dự án kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống kiểm soát tại các sông lớn, nâng cấp đê biển và phát triển các công trình chuyển nước, kết nối nguồn nước giữa các vùng.
Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kinh rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn, mặn…
Còn theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước - Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Nguyễn Minh Khuyến, quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông Mê Kông. Đồng thời, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn.
Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông; tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn, mặn như ven biển, bán đảo Cà Mau. Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi cần được đặt ra.

Các chuyên gia phát biểu tại hội thảo.
Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất…
Phát biểu tại hội thảo, Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Cần Thơ Nguyễn Hoàng Anh cho rằng, hội thảo cho thấy bức tranh chung nguồn nước vùng ĐBSCL hiện nay. Đồng thời, phân tích các yếu tố tác động đến nguồn nước của khu vực.
Các đại biểu cũng lắng nghe, tiếp nhận nhiều cấp độ thông tin khác nhau, từ lăng kính của nhà khoa học, nhà quản lý cho đến người nông dân. Câu chuyện còn lại là sự đồng thuận của cộng đồng, người dân để có thể tổ chức thực hiện tốt.
Điều quan trọng tiếp theo là các giải pháp để thực hiện. Qua hội thảo, chúng ta thấy được rất nhiều giải pháp, về cả nhân lực lẫn tài lực - 2 giải pháp quan trọng nhất. An ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện hôm nay, mà phải định hướng cho tương lai gắn với hành động ra sao, thời gian nào nhằm đảm bảo tính bền vững…













