Bản tin nông sản hôm nay (21-4): Giá cà phê tăng

Bản tin nông sản hôm nay (21-4): Giá cà phê tại thị trường trong nước tăng nhẹ; giá hồ tiêu trong nước không ghi nhận phiên điều chỉnh mới; giá lúa gạo ổn định.

* Giá cà phê: Tại thị trường trong nước, ghi nhận phiên điều chỉnh nhẹ. Hiện giá cà phê Tây Nguyên giao dịch trong khoảng 84.500 - 85.000 đồng/kg tại các vùng trọng điểm, tăng nhẹ 300 đồng so với hôm qua.

Cụ thể, tại Đắk Lắk và Gia Lai đều tăng 300 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 85.300 đồng/kg. Gia Lai và Đắk Lắk là 2 địa phương có mức giá cà phê cao nhất trên cả nước hôm nay.

Trong khi đó, tại Lâm Đồng ở mức 84.800 đồng/kg, cũng tăng 300 đồng so với hôm qua. Đây là mức giá thấp nhất trong khu vực.

 Bản tin nông sản hôm nay (21-4): Giá cà phê tăng nhẹ. Ảnh minh họa: kinhtedothi.vn

Bản tin nông sản hôm nay (21-4): Giá cà phê tăng nhẹ. Ảnh minh họa: kinhtedothi.vn

Thị trường cà phê thế giới hôm nay ghi nhận phiên đảo chiều, tăng đồng loạt so với trên sàn các sàn giao dịch quốc tế.

Cụ thể, trên sàn giao dịch London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5-2026 tăng mạnh 94 USD/tấn so với hôm qua, lên mức 3.482 USD/tấn. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 1-2027 cũng đảo chiều tăng mạnh 81 USD/tấn, đạt 3.168 USD/tấn.

Sàn New York, giá cà phê Arabica tăng đồng loạt so với hôm qua. Cụ thể, kỳ giao tháng 5-2026 tăng 2,9 cent/lb, đạt mức 292,2 cent/lb. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3-2027 cũng tăng thêm 4,7 cent/lb, lên mức 266,35 cent/lb.

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Arabica trên sàn Brazil ghi nhận phiên tăng nhẹ. Cụ thể, kỳ hạn tháng 5-2026 đạt mức 388,95 cent/lb, tăng nhẹ 3,85 cent/lb; kỳ giao hàng tháng 12-2026 tăng 3,15 cent/lb, đạt mức 330,35 cent/lb.

* Giá hồ tiêu: Tại thị trường trong nước không ghi nhận phiên điều chỉnh mới; dao động trong khoảng 139.500 - 141.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại Gia Lai hiện giao dịch ở mức 139.500 đồng/kg. Trong khi đó, tại TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai giao dịch ở mức 140.000 đồng/kg, không biến động so với mức giá hôm qua.

Tại Đắk Lắk và Lâm Đồng giao dịch ở mức 141.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá cao nhất trên cả nước hôm nay.

Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ghi nhận biến động mới từ thị trường Indonesia. Các thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn khác đều duy trì mức giá ổn định.

Cụ thể, giá hồ tiêu đen Lampung của Indonesia ở mức 7.048 USD/tấn, tăng nhẹ 5 USD/tấn so với hôm qua.

Tương tự, giá hồ tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng tăng thêm 7 USD/tấn so với hôm qua, hiện đạt mức 9.286 USD/tấn.

Trong khi đó, giá hồ tiêu Brazil không ghi nhận biến động mới so với hôm qua, giao dịch ở mức 6.000 USD/tấn.

Tại Malaysia, giá hồ tiêu đen ASTA ở mức 9.300 USD/tấn. Giá hồ tiêu trắng đạt 12.200 USD/tấn, không biến động so với hôm qua.

Tương tự, giá hồ tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam không ghi nhận biến động mới, hiện giao dịch ở mức 9.000 USD/tấn.

Tương tự, giá hồ tiêu đen Việt Nam cũng đồng loạt đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, loại 500 gr/l hiện đạt mức 6.100 USD/tấn; loại 550 gr/l đạt 6.200 USD/tấn.

* Giá lúa gạo: Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg, gạo nguyên liệu OM 5451 trong khoảng 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu IR 504 ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; gạo Sóc thơm giá 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, gạo thơm Đài Loan ở mức 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp không biến động. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 ở mốc 6.000 - 6.200; lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; lúa OM 5451 (tươi) ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam ở mức 490 - 500 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 465 - 469 USD/tấn; trong khi gạo trắng 5% tấm dao động 376 - 380 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan ở mức 395 - 399 USD/tấn, cao hơn so với Pakistan với 356 - 360 USD/tấn. Tại Ấn Độ giá gạo ở mức thấp hơn, dao động 342 - 346 USD/tấn. Riêng gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ tiếp tục ổn định ở mức 344 - 348 USD/tấn.

VIỆT CHUNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/ban-tin-nong-san-hom-nay-21-4-gia-ca-phe-tang-1036032