Bảo đảm chính sách nhà ở thực sự đến được với người dân
Đóng góp ý kiến vào định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tập trung vào những vấn đề gắn trực tiếp với khả năng tiếp cận chỗ ở, từ chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang, nhà ở cho thuê đến cơ chế giá thuê, quản lý Quỹ nhà ở và nguồn lực tài chính công đoàn.

Đoàn chủ tọa tại Phiên thảo luận
Chiều 21/8, tại Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.
Nhà ở cho lực lượng vũ trang cần phù hợp đặc thù nhiệm vụ

Đại biểu Phạm Đức Hoài, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại hội trường
Đại biểu Phạm Đức Hoài, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đánh giá cao việc dự thảo Luật dành riêng một mục, từ Điều 72 đến Điều 80, quy định về nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân. Theo đại biểu, đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với cán bộ, chiến sĩ, đồng thời góp phần thực hiện chính sách hậu phương quân đội, công an.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng dự thảo hiện nay vẫn đang tiếp cận nhà ở cho lực lượng vũ trang gần như một dạng đặc biệt của nhà ở xã hội, trong khi đặc điểm hoạt động của lực lượng này có nhiều khác biệt.

Toàn cảnh Phiên thảo luận
Cán bộ, chiến sĩ có thể thường xuyên được điều động, luân chuyển; thực hiện nhiệm vụ tại biên giới, hải đảo, địa bàn chiến lược; công tác tại các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, đơn vị cơ động. Trong khi đó, nơi công tác và nơi gia đình sinh sống có thể cách xa nhau. Vì vậy, theo đại biểu, nhu cầu nhà ở của lực lượng vũ trang không thể chỉ xác định dựa trên tiêu chí thu nhập và tình trạng nhà ở như đối với các nhóm đối tượng nhà ở xã hội thông thường.
Từ thực tế đó, đại biểu Phạm Đức Hoài đề nghị bổ sung ngay trong Luật nguyên tắc phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang phải phù hợp với nhu cầu bố trí, sử dụng lực lượng và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Theo đó, cần ưu tiên các địa bàn biên giới, hải đảo, địa bàn trọng yếu, đơn vị sẵn sàng chiến đấu và những nơi có nhu cầu nhà ở lớn của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, cần bổ sung quy định để Chính phủ quy định chi tiết về nội dung này.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát quy định tại Điều 79 về xác định giá bán, giá thuê mua, giá thuê nhà ở. Theo đại biểu, tên Điều 79 có đề cập đến việc xác định giá thuê nhà ở, nhưng nội dung hiện chưa quy định hoặc dẫn chiếu cụ thể việc xác định giá thuê. Do đó, cần bổ sung nội dung xác định giá thuê nhà ở hoặc dẫn chiếu đầy đủ sang các quy định về giá thuê nhà ở xã hội, qua đó bảo đảm sự thống nhất giữa tên điều và nội dung quy phạm, tránh khoảng trống trong quá trình áp dụng.

Các đại biểu tham dự
Trong khi đó, đại biểu Trịnh Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tập trung phân tích chính sách phát triển nhà ở cho thuê được quy định tại Chương IV, từ Điều 31 đến Điều 43 của dự thảo.
Đại biểu cơ bản đồng tình với việc xây dựng một cơ chế riêng về phát triển nhà ở cho thuê. Theo đại biểu, đây là hướng tiếp cận cần thiết, chuyển tư duy từ “sở hữu nhà ở” sang “đảm bảo quyền có nơi ở hợp pháp, ổn định”.
Từ cách tiếp cận này, đại biểu đề nghị dự thảo cần đặc biệt quan tâm đến quyền được ở ổn định của người thuê. Tại điểm b khoản 3 Điều 35, chủ đầu tư được phép định kỳ rà soát điều kiện của người thuê để quyết định tiếp tục cho thuê hoặc chấm dứt hợp đồng, trong khi điểm d cùng khoản lại quy định nhà ở được cho thuê “ổn định, lâu dài”.
Theo đại biểu, nếu chính sách hướng đến bảo đảm nơi ở ổn định thì người thuê phải có một mức độ chắc chắn nhất định về quyền cư trú. Đặc biệt, trường hợp người đang được hỗ trợ do khó khăn về kinh tế nhưng sau đó có việc làm tốt hơn, thu nhập tăng lên mà lập tức mất quyền thuê có thể tạo ra nghịch lý: người dân cải thiện đời sống nhưng lại mất sự ổn định về chỗ ở.

Các đại biểu tham dự
Đại biểu Trịnh Tú Anh đề nghị tách rõ các căn cứ chấm dứt hợp đồng. Vi phạm hợp đồng hoặc hết thời hạn hợp đồng có thể là căn cứ chấm dứt theo quy định; còn việc thay đổi điều kiện kinh tế của người thuê không nên đương nhiên dẫn tới chấm dứt hợp đồng.
Thay vào đó, đại biểu đề xuất nghiên cứu cơ chế điều chỉnh mức giá thuê theo hướng tăng dần khi thu nhập của người thuê vượt ngưỡng, thay vì cắt quyền thuê. Đại biểu dẫn mô hình “phụ phí đoàn kết” (surloyer de solidarité) trong hệ thống nhà ở xã hội HLM của Pháp như một tham khảo: người thuê có thu nhập vượt trần không nhất thiết phải rời đi mà trả thêm một khoản phụ phí theo mức vượt trần.
Giá thuê phải gắn với khả năng chi trả và quản lý minh bạch nguồn lực

Đại biểu Trịnh Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại hội trường
Một nội dung khác được đại biểu Trịnh Tú Anh nhấn mạnh là cơ chế xác định giá thuê và nguyên tắc hoàn vốn tại Điều 37.
Theo dự thảo, giá thuê đối với nhà ở đầu tư bằng vốn Quỹ nhà ở được xác định trên nguyên tắc tính đủ chi phí thu hồi vốn đầu tư xây dựng, kinh phí bảo trì nhà ở, thuế, phí, lệ phí. Đại biểu cho rằng cần làm rõ bản chất của khoản đầu tư này. Nếu là dự án thương mại, yêu cầu hoàn vốn là đương nhiên.
Tuy nhiên, nếu Nhà nước sử dụng nguồn lực công để xây dựng nhà ở nhằm giải quyết khó khăn về nhà ở thì mục tiêu trước hết phải là bảo đảm khả năng tiếp cận chỗ ở, thay vì tối đa hóa khả năng thu hồi vốn từ người thuê.
Nếu toàn bộ chi phí đầu tư được đưa vào giá thuê để hoàn vốn, thì giá thuê có thể tăng lên đến mức mà chính người thu nhập thấp không thể tiếp cận
Đại biểu Trịnh Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nêu vấn đề
Từ đó, đại biểu đề nghị phân định rõ chi phí đầu tư, chi phí quản lý vận hành, chi phí bảo trì và phần hỗ trợ của Nhà nước. Giá thuê cần được xác định trên cơ sở khả năng chi trả của đối tượng thụ hưởng; phần chi phí mà chính sách xã hội yêu cầu Nhà nước hỗ trợ cần được xác định minh bạch là chi phí của chính sách, không nên mặc nhiên chuyển toàn bộ sang tiền thuê của người dân.

Quang cảnh Phiên thảo luận tại Hội trường, chiều 21/8
Đối với kinh phí bảo trì, đại biểu cho rằng dự thảo đã có bước tiếp cận phù hợp khi quy định trừ kinh phí bảo trì trước khi tính phần hoàn vốn đầu tư. Tuy nhiên, cần quy định rõ cách xác định mức kinh phí trích lại để bảo trì, có thể theo tỷ lệ doanh thu, niên hạn công trình hoặc phương pháp định giá theo vòng đời công trình.
Đại biểu đề nghị Chính phủ khi hướng dẫn Điều 37 quy định tỷ lệ trích lập tối thiểu cho kinh phí bảo trì, tính theo phương pháp khấu hao hoặc vòng đời công trình, tránh để mức trích lập trở thành biến số tùy nghi nhằm giữ giá thuê thấp trong ngắn hạn nhưng không bảo đảm nguồn lực sửa chữa công trình về lâu dài.
Đối với Quỹ nhà ở quy định tại khoản 3 Điều 32, đại biểu Trịnh Tú Anh cho rằng đây là thiết chế quản lý nguồn lực công rất lớn, do đó Luật cần quy định rõ hơn về bản chất pháp lý của Quỹ, quyền quản lý tài sản, cơ chế tài chính, nguyên tắc bảo toàn vốn, quản lý dòng tiền và trách nhiệm giải trình.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ cơ chế quản lý tài sản được hình thành từ Quỹ nhà ở; trách nhiệm khi dự án không cân đối được thu - chi và cách xác định, kiểm soát khoản hỗ trợ từ ngân sách. Theo đại biểu, nếu các nội dung quan trọng này đều giao Chính phủ quy định sau thì có nguy cơ những vấn đề cốt lõi của chính sách lại nằm ngoài Luật.

Các đại biểu tham dự
Đáng chú ý, đại biểu đề cập sự khác biệt trong cơ chế giá thuê giữa nhà ở đầu tư bằng vốn Quỹ nhà ở và nhà ở được đầu tư bằng nguồn tài chính công đoàn. Theo đại biểu, trong khi dự thảo quy định khá chi tiết nguyên tắc xác định giá thuê, cơ cấu nguồn thu, nguồn chi và cơ chế hoàn vốn đối với nhà ở đầu tư bằng vốn Quỹ nhà ở, thì khoản 7 Điều 37 chỉ quy định “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyết định giá thuê nhà ở được đầu tư xây dựng bằng nguồn tài chính công đoàn”, mà chưa kèm theo nguyên tắc xác định giá và yêu cầu công khai cơ cấu thu - chi tương tự.
Từ đó, đại biểu Trịnh Tú Anh đề nghị áp dụng nguyên tắc xác định giá thuê và yêu cầu công khai cơ cấu thu - chi tương tự đối với nhà ở đầu tư bằng nguồn tài chính công đoàn, nhằm bảo đảm người lao động đóng góp quỹ công đoàn được bảo vệ quyền lợi tương đương người thuê nhà ở Quỹ nhà ở.
Các ý kiến của đại biểu tỉnh Lâm Đồng đều hướng đến mục tiêu để chính sách nhà ở đi vào thực chất, bảo đảm người dân được tiếp cận chỗ ở phù hợp, ổn định. Đồng thời, việc quản lý, sử dụng các nguồn lực cho nhà ở cần công khai, minh bạch và hiệu quả.
