Bảo đảm quyền lợi người dân nơi có hoạt động khai thác khoáng sản

Góp ý sửa đổi Luật Địa chất và Khoáng sản, các đại biểu Quốc hội đề nghị tăng quyền giám sát của cộng đồng, bảo đảm quyền lợi người dân và khắc phục tác động từ hoạt động khai thác khoáng sản.

Đại biểu Nguyễn Phi Hùng (Đoàn thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Đại biểu Nguyễn Phi Hùng (Đoàn thành phố Đà Nẵng). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Chiều 12/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và Khoáng sản, các đại biểu Quốc hội đề nghị tăng quyền giám sát của cộng đồng, bảo đảm quyền lợi người dân và khắc phục tác động từ hoạt động khai thác khoáng sản.

*Đại biểu Nguyễn Phi Hùng (Đoàn thành phố Đà Nẵng): Cần tăng quyền giám sát của cộng đồng trong khai thác khoáng sản

Dự thảo luật đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về tăng cường phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương cho địa phương. Tuy nhiên, dự thảo luật lần này cũng cần quan tâm đến cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cộng đồng dân cư và doanh nghiệp ở vùng chịu tác động trực tiếp của hoạt động địa chất và khoáng sản. 

Để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân, một là bổ sung quy định về tham vấn ý kiến cộng đồng đối với việc cấp phép khai thác các loại khoáng sản. Thực tế cho thấy, các hoạt động liên quan đến địa chất và khoáng sản luôn ẩn chứa nhiều nguy cơ làm biến đổi địa chất, sạt lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh và sản xuất của người dân.

Tuy nhiên, Luật Địa chất và Khoáng sản hiện hành cũng như dự thảo luật sửa đổi lần này chưa quy định bắt buộc chủ đầu tư và cơ quan nhà nước phải niêm yết, công khai thông tin và tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thăm dò, khai thác khoáng sản... ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân.

Đề nghị, Ban soạn thảo bổ sung vào dự thảo luật quy định bắt buộc phải tổ chức lấy ý kiến tham vấn công khai của cộng đồng dân cư nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của các dự án mỏ trước khi trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định. Việc bổ sung này phù hợp với Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và hoàn toàn đồng bộ với quy định về lấy ý kiến cộng đồng dân cư quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Khí tượng thủy văn cũng được sửa đổi, bổ sung ngay trong dự thảo luật lần này.

Hai là siết chặt quy định đóng cửa mỏ và cơ chế giám sát của nhân dân. Tại Điều 83, Điều 84 dự thảo dự thảo luật đã phân cấp toàn bộ thẩm quyền thẩm định, phê duyệt đề án và quyết định đóng cửa mỏ cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là nhiều mỏ đã hoàn thành đóng cửa mỏ trên hồ sơ, nhưng trên thực địa thì vẫn để lại hố sâu nguy hiểm, chưa hoàn trả hiện trạng, gây ô nhiễm nguồn nước rồi ảnh hưởng đến môi trường. Người dân ở các địa phương này phải chịu hậu quả.

Đề nghị bổ sung quy định đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và đại diện cộng đồng dân cư nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án tham gia vào Ban giám sát đóng cửa mỏ và Hội đồng nghiệm thu kết quả phục hồi môi trường trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành quyết định đóng cửa mỏ.

Đồng thời, đề nghị bổ sung điều kiện bắt buộc khi xem xét việc cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản theo hướng quy định việc hoàn thành đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản, đất đai, nguồn nước cho người dân (nếu có). Điều này góp phần khắc phục triệt để tình trạng doanh nghiệp chây ỳ về việc bồi thường thiệt hại cho người dân nhưng vẫn được cơ quan quản lý gia hạn giấy phép.

Ba là cần thiết bổ sung quy định về trích nguồn thu tái thiết đầu tư cho dân sinh, xã hội của địa phương. Thực tế hiên nay là hoạt động khai thác khoáng sản luôn gây ra hậu quả như: hư hỏng hạ tầng giao thông, gây ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí trong một thời gian dài thực hiện dự án, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân tại các khu dân cư lân cận. Việc khắc phục tình trạng nêu trên đang gặp rất nhiều khó khăn cho các địa phương do không có nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động này. 

Do vậy, để có nguồn kinh phí hỗ trợ cho địa phương khắc phục những tác động trên, đề nghị bổ sung quy định bắt buộc chủ đầu tư, chủ mỏ phải trích ứng tối thiểu 10% tiền cấp quyền khai thác khoáng sản để điều tiết trực tiếp cho ngân sách cấp xã có hoạt động khai thác khoáng sản. Đồng thời, quy định rõ nguồn kinh phí này chỉ được sử dụng chuyên biệt để sửa chữa hạ tầng giao thông, xây dựng các công trình dân sinh, y tế, giáo dục và phục hồi môi trường sống cho cộng đồng dân cư.

Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

*Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An): Cần cơ chế khai thác từng phần để đáp ứng nhu cầu vật liệu 

Về khai thác khoáng sản nhóm 3 là vật liệu xây dựng thông thường, mặc dù Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ về việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 đã có các cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ. Nhưng trên thực tế việc cấp phép khai thác khoáng sản vẫn kéo dài, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vật liệu cho các công trình, dự án, nhất là các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia và các công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Qua thực tiễn cho thấy, có tình trạng nguồn vật liệu không đáp ứng kịp tiến độ thi công. Nguyên nhân không hẳn là do địa bàn không có tài nguyên, mà vấn đề là từ khi xác định được nguồn khoáng sản đến khi có thể đưa vào khai thác còn phải mất nhiều thời gian.

Theo quy định, việc thăm dò, công nhận kết quả thăm dò và cấp phép cơ bản được thực hiện theo một trình tự nhất định. Trong khi đó, nhu cầu vật liệu cho các dự án lại phát sinh theo từng giai đoạn, từng đoạn tuyến. Có trường hợp trong quá trình thăm dò, một phần khu vực khoáng sản đã được xác định tương đối rõ về vị trí, chất lượng và trữ lượng nhưng vẫn phải chờ hoàn thành toàn bộ quá trình thăm dò mới có thể chuyển sang khai thác. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế công nhận kết quả thăm dò từng phần, khai thác từng phần; phần còn lại tiếp tục được thăm dò theo đề án đã được phê duyệt.

Việc sửa đổi, bổ sung này sẽ rút ngắn thời gian đưa vật liệu vào công trường, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ về tài nguyên, tạo cơ chế pháp lý ổn định thay cho việc phải đưa ra các cơ chế đặc thù trong từng dự án cụ thể.

Về thu hồi khoáng sản trong hoạt động nạo vét, hiện nay, chủ trương thu hồi khoáng sản như cát, sỏi trong quá trình nạo vét lòng hồ, lòng sông, lòng hồ thủy lợi, thủy điện, vùng lạch là rất phù hợp. Điều này vừa tận dụng hiệu quả tài nguyên, vừa góp phần khơi thông dòng chảy, tăng khả năng phục vụ và phát huy công năng của công trình.

Tuy nhiên, theo các quy định chuyên ngành hiện nay còn chưa đồng bộ, có nội dung chồng chéo, gây khó khăn và kéo dài thủ tục. Do vậy, lần sửa đổi này cũng nên có những quy định ngắn gọn, thống nhất, rõ trách nhiệm, tạo cơ chế thuận lợi để thu hồi, sử dụng khoáng sản trong quá trình nạo vét, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên, chống thất thoát, nhưng hồ sơ, thủ tục đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với thực tế của địa phương cũng như doanh nghiệp.

*Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (đoàn Lạng Sơn): Làm rõ cơ chế thu hồi khoáng sản khi nạo vét lòng hồ

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản cần tiếp tục xử lý một số tình huống phát sinh từ thực tiễn. Đối với nội dung phân cấp gia hạn, điều chỉnh giấy phép khoáng sản, báo cáo đã giải trình khá cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế còn phát sinh trường hợp nạo vét lòng hồ thủy điện có khoáng sản cần thu hồi. Đây vừa là yêu cầu bảo đảm an toàn, duy trì dung tích hồ chứa, vừa liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản.

Đề nghị tiếp tục rà soát để quy định hoặc hướng dẫn thật rõ trình tự xử lý, thẩm quyền quyết định, phương thức quản lý khối lượng khoáng sản thu hồi, nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.

Mục tiêu là vừa tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nạo vét cần thiết, vừa không tạo kẽ hở để lợi dụng hoạt động nạo vét nhằm khai thác khoáng sản trái phép.

Thu Hằng - Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/bao-dam-quyen-loi-nguoi-dan-noi-co-hoat-dong-khai-thac-khoang-san/432498.html