Bảo hiểm nông nghiệp: Công cụ quản trị rủi ro trước cú sốc thiên tai

Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp trong quản lý rủi ro, giúp nông dân chủ động ứng phó thiên tai và giảm thiểu thiệt hại kinh tế. (Ảnh: AI/Vietnam+)
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn giữ vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng đối với ổn định kinh tế-xã hội và an ninh lương thực. Cùng với quá trình tái cơ cấu, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị trong nước, quốc tế.
Sự chuyển dịch đó cũng làm thay đổi quy mô của rủi ro. Khi vốn đầu tư, giá trị sản xuất và mức độ liên kết thị trường ngày càng lớn, mỗi cú sốc thiên tai, dịch bệnh hay gián đoạn sản xuất đều có thể gây tổn thất vượt xa khả năng tự bù đắp của một hộ gia đình, trang trại hay doanh nghiệp.
Thực tế những năm gần đây cho thấy mức độ rủi ro đang ngày càng rõ nét. Theo số liệu từ Cục Thống kê, thiên tai gây thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 91.622 tỷ đồng trong năm 2024 và 104.732 tỷ đồng năm 2025. Riêng bão Yagi năm 2024 đã gây thiệt hại lớn tại nhiều địa phương, trong đó gần 350.000 ha lúa, hoa màu, cây ăn quả bị ngập úng, thiệt hại; 8.100 lồng bè và 31.000 ha nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng; Hơn 5,6 triệu gia súc, gia cầm bị chết và hàng trăm ha đất sản xuất nông nghiệp bị sa bồi, thủy phá.
Từ góc độ tín dụng, Agribank ghi nhận bão Yagi tác động đến hơn 28.000 khách hàng, với tổng dư nợ bị ảnh hưởng khoảng 40.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy thiên tai không chỉ làm mất mùa hay hư hỏng tài sản, mà còn kéo theo sự đứt gãy chuỗi sản xuất, làm gián đoạn dòng tiền, gia tăng áp lực trả nợ và làm chậm quá trình phục hồi của người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, việc cứu trợ sau thiên tai là rất cần thiết, nhưng khó có thể là giải pháp duy nhất khi quy mô và tần suất tổn thất đang ngày càng lớn hơn. Bài toán đặt ra là làm thế nào để một phần rủi ro được nhận diện, phòng ngừa và phân bổ trước khi thiệt hại xảy ra, thay vì chỉ tìm nguồn lực khắc phục khi hậu quả đã hiện hữu.
Bảo hiểm nông nghiệp vì thế cần được nhìn nhận không chỉ như một sản phẩm tài chính, mà còn là một công cụ quản trị rủi ro. Khi được thiết kế phù hợp, bảo hiểm có thể giúp người sản xuất có thêm nguồn lực phục hồi sau tổn thất, giảm áp lực lên tín dụng và ngân sách Nhà nước, đồng thời tạo thêm một lớp bảo vệ cho quá trình đầu tư và tổ chức sản xuất.
Định hướng này cũng phù hợp với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó bảo hiểm nông nghiệp được đặt trong nhóm các chính sách hỗ trợ cùng với đầu tư hạ tầng, giống, công nghệ và tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến một thị trường bảo hiểm nông nghiệp có độ bao phủ thực chất vẫn còn khoảng cách lớn. Sau nhiều năm triển khai, số người tham gia còn rất thấp so với hơn 9 triệu hộ nông nghiệp. Nhiều cây trồng, vật nuôi và lĩnh vực sản xuất chưa có sản phẩm bảo hiểm phù hợp. Thêm vào đó, doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải đối mặt với rủi ro cao, thiếu dữ liệu tổn thất đủ chi tiết để định phí và những khó khăn trong tổ chức sản phẩm, giám định, bồi thường.
Ở chiều ngược lại, đối với người nông dân, chi phí bảo hiểm, nhận thức về sản phẩm, niềm tin vào khả năng bồi thường và thủ tục tham gia, giải quyết quyền lợi vẫn là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua bảo hiểm. Chính sách hỗ trợ phí đã được triển khai nhưng mức hỗ trợ, phạm vi đối tượng, quy trình phê duyệt và thanh toán vẫn là những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Như vậy, câu chuyện của bảo hiểm nông nghiệp không chỉ nằm ở việc có thêm sản phẩm hay khuyến khích người dân tham gia. Đó là bài toán rộng hơn về cách thiết kế chính sách, xây dựng dữ liệu, phân bổ chi phí và chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng và người sản xuất.
Chùm 3 bài với chủ đề “Bảo hiểm cho nông nghiệp: Từ cứu trợ đến quản trị rủi ro chủ động” tập trung phân tích quá trình chuyển đổi này. Bài một tiếp cận từ cái nhìn thực tế về tổn thất và yêu cầu chuyển từ ứng phó sang chủ động quản trị rủi ro. Bài thứ hai đi sâu vào độ bao phủ và khoảng cách giữa nhu cầu bảo vệ với sản phẩm bảo hiểm hiện có. Bài thứ ba tập trung vào những điểm nghẽn về chính sách, dữ liệu, mức hỗ trợ, thủ tục và cơ chế chia sẻ rủi ro, từ đó hoàn thiện chính sách để bảo hiểm có thể thực sự trở thành một lớp bảo vệ cho nền sản xuất nông nghiệp.

Mỗi năm, thiên tai gây thiệt hại từ hàng chục nghìn đến trăm nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế đồng thời kéo theo nhu cầu rất lớn về ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân và phục hồi sản xuất. Đáng nói hơn, phía sau những con số thiệt hại trực tiếp còn là sự đứt gãy sản xuất, gián đoạn chuỗi cung ứng, nguy cơ mất an ninh lương thực cục bộ và những tác động kéo dài đối với đời sống người dân.
Trong bối cảnh đó, bảo hiểm nông nghiệp không chỉ được đặt trong câu chuyện bảo vệ tài chính của từng hộ sản xuất. Vấn đề rộng hơn là khả năng chia sẻ rủi ro giữa người dân, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng và Nhà nước, qua đó giảm mức độ phụ thuộc vào nguồn lực cứu trợ sau thiên tai.

Bão Yagi năm 2024 là một ví dụ rõ về quy mô của cú sốc thiên tai đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo tài liệu thống kê, bão đã gây thiệt hại hơn 83.000 tỷ đồng tại nhiều địa phương. Riêng tại Agribank ghi nhận hơn 28.000 khách hàng bị ảnh hưởng với dư nợ liên quan khoảng 40.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy hậu quả của thiên tai không dừng ở tài sản bị phá hủy. Khi một cơ sở sản xuất bị đình trệ, dòng tiền bị gián đoạn, người lao động có thể mất việc song các khoản vay vẫn tồn tại. Với khu vực nông nghiệp, tác động còn có thể lan từ đồng ruộng, trang trại, cơ sở nuôi trồng sang các khâu chế biến, tiêu thụ và cung ứng.
Một số trường hợp có bảo hiểm đã cho thấy vai trò của cơ chế chia sẻ rủi ro trong thời điểm doanh nghiệp cần vốn để phục hồi. Công ty Việt Trường ở Hải Phòng cho biết đã nhận hơn 22 tỷ đồng từ Bảo hiểm Agribank (ABIC). Cùng với đó, Công ty thiết bị điện Presenza tại Hà Nội cũng được tạm ứng 1 tỷ đồng sau bão Yagi.
Nhìn lại quãng thời gian khó khăn đó, ông Ngô Minh Phương, Giám đốc điều hành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Trường, cho biết khoản tiền bảo hiểm đã đến đúng thời điểm, nó góp phần giúp doanh nghiệp có điều kiện khởi động lại nhà máy và giữ chân được lực lượng lao động.
Giá trị của bảo hiểm, vì vậy không chỉ nằm ở khoản tiền được chi trả sau tổn thất. Theo đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu, qua hậu quả của bão Yagi có thể thấy bảo hiểm còn có vai trò hỗ trợ khôi phục sản xuất. Bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm có thể chủ động hỗ trợ tư vấn để khách hàng phòng ngừa và giảm tổn thất. Khi hoạt động sản xuất, kinh doanh được duy trì hoặc khôi phục nhanh hơn, tác động của rủi ro cũng được hạn chế.

(Ảnh chỉ có tính minh họa. Nguồn: AI)
Trong 10 năm qua, ba doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Agribank, VietinBank và BIDV ghi nhận tổng số tiền chi trả hơn 20.000 tỷ đồng để bồi thường cho khách hàng gặp rủi ro. Con số này là một chỉ dấu về chức năng san sẻ tổn thất của bảo hiểm, nhưng đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về khoảng cách giữa quy mô rủi ro trong nền kinh tế và khả năng được bảo vệ của khu vực sản xuất nông nghiệp.
Bởi ở nơi rủi ro thường xuyên xuất hiện nhất, bảo hiểm lại chưa trở thành một thói quen tài chính phổ biến.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam chỉ ra người nông dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của bảo hiểm nông nghiệp, trong khi công tác tuyên truyền của ngành còn hạn chế. Hơn nữa, chi phí bảo hiểm dù không cao nhưng vẫn có thể trở thành gánh nặng đối với một số hộ nông dân.
Đây là một nghịch lý đáng chú ý, bởi nông nghiệp càng chuyển sang sản xuất hàng hóa, đầu tư càng lớn thì mức độ tổn thương về vốn khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh càng cao. Nhưng với những hộ có nguồn lực tài chính hạn chế, bảo hiểm lại dễ bị nhìn nhận như một khoản chi có thể trì hoãn, trong khi tiền đầu tư cho giống, vật tư, máy móc hay sản xuất thường được ưu tiên trước.
Vì vậy, câu chuyện không đơn thuần là thuyết phục nông dân mua bảo hiểm. Vấn đề là phải hình thành được một cơ chế để chi phí bảo vệ rủi ro trở thành một bộ phận hợp lý của quá trình sản xuất.

Một số trường hợp có bảo hiểm đã cho thấy vai trò của cơ chế chia sẻ rủi ro trong thời điểm doanh nghiệp cần vốn để phục hồi. (Ảnh: Vietnam+)

Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Tuy nhiên, khi mức độ rủi ro gia tăng, nguồn lực ngân sách Nhà nước khó có thể một mình đáp ứng mọi nhu cầu phục hồi.
Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chỉ ra các gói cứu trợ khẩn cấp không thể đáp ứng kịp thời mọi rủi ro ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, bảo hiểm có thể trở thành công cụ san sẻ rủi ro, giảm gánh nặng tài chính cho người dân và ngân sách quốc gia.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định hướng được nêu tại Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo Nghị quyết, định hướng phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, bảo hiểm nông nghiệp được đặt cùng các chính sách về đầu tư hạ tầng, giống, công nghệ và tín dụng.
Nghị quyết 19-NQ/TW định hướng phát triển nông nghiệp xanh, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, bảo hiểm nông nghiệp được đặt cùng các chính sách về đầu tư hạ tầng, giống, công nghệ và tín dụng.
Song, điểm cần lưu ý là bảo hiểm không thay thế vai trò của Nhà nước trong phòng chống và khắc phục thiên tai. Nó chỉ có thể tạo thêm một tầng chia sẻ rủi ro, để khi tổn thất xảy ra, toàn bộ gánh nặng không dồn vào một chủ thể. Ở cấp độ hộ gia đình, đó có thể là khoản tiền giúp duy trì sinh kế. Với doanh nghiệp, đó có thể là nguồn lực để khôi phục sản xuất. Với ngân hàng, bảo hiểm có thể góp phần giảm áp lực đối với những khoản vay chịu tác động của thiên tai. Với ngân sách Nhà nước, một thị trường bảo hiểm hoạt động hiệu quả có thể góp phần phân bổ lại một phần chi phí rủi ro.

(Ảnh chỉ có tính minh họa. Nguồn: AI)
Một ví dụ về sản phẩm Bảo an tín dụng dành cho khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Agribank. Cụ thể vào ngày 20/3/2026, tại xã Phú Đình, Thái Nguyên, Bảo hiểm Agribank chi nhánh Thái Nguyên phối hợp với Agribank chi nhánh Định Hóa chi trả hơn 1,1 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho gia đình một khách hàng vay vốn gặp rủi ro. Khoản chi trả này đã giúp tất toán dư nợ và giữ lại tài sản thế chấp cho gia đình.
Theo Agribank, đây là sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ dành cho khách hàng vay vốn tại ngân hàng với mức phí khoảng 0,5-1%/năm trên số tiền vay. Khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm, khoản dư nợ còn lại được chi trả theo hợp đồng.
Trường hợp này cho thấy một hướng kết hợp giữa tín dụng và bảo hiểm. Đó là vốn vay tạo điều kiện phát triển sản xuất, còn bảo hiểm tạo thêm cơ chế bảo vệ khi rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, Agribank cũng cho biết không ít người dân vẫn chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về bảo hiểm tín dụng, qua đây cho thấy khoảng trống về truyền thông và khả năng tiếp cận vẫn còn rất lớn.
Ở cấp độ rộng hơn, bài toán đặt ra cần xây dựng một hệ sinh thái trong đó ngân hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, chính quyền và các tổ chức xã hội cùng tham gia. Trong đó, các ngân hàng có lợi thế về mạng lưới và khả năng tiếp cận khu vực nông thôn, nhưng việc phân phối bảo hiểm qua ngân hàng đòi hỏi phải được thực hiện theo hướng minh bạch và bảo vệ quyền lợi khách hàng.
Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 1/7/2024) đã quy định cấm bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng dưới hình thức “bán kèm” với sản phẩm tín dụng nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Song, đại diện Bảo hiểm VietinBank cho biết cách hiểu về khái niệm “bán kèm” còn chưa thống nhất và kiến nghị có hướng dẫn cụ thể để vừa bảo vệ người tiêu dùng, vừa không làm giảm khả năng tiếp cận bảo hiểm của người dân nông thôn.
Như vậy, chuyển từ cứu trợ sang quản trị rủi ro không có nghĩa là giảm vai trò của Nhà nước, mà là thay đổi cách phân bổ trách nhiệm khi rủi ro xảy ra. Muốn vậy, bảo hiểm nông nghiệp phải được đặt trong một hệ thống chính sách đủ rõ để người dân có thể tiếp cận, doanh nghiệp có cơ sở triển khai và Nhà nước có cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Trên thực tế, nông nghiệp Việt Nam không thiếu nhu cầu bảo vệ, nhưng khoảng cách giữa nhu cầu đó với các sản phẩm bảo hiểm đang được triển khai vẫn rất lớn. Hiện, chỉ một số ít loại cây trồng, vật nuôi và đối tượng sản xuất được bảo hiểm. Do đó, câu hỏi tiếp theo không chỉ là “có bảo hiểm hay không,” mà là sản phẩm hiện có đã đáp ứng đến đâu những rủi ro thực tế của nông nghiệp?

Trên thực tế, nông nghiệp Việt Nam không thiếu nhu cầu bảo vệ, nhưng khoảng cách giữa nhu cầu đó với các sản phẩm bảo hiểm đang được triển khai vẫn rất lớn. (Ảnh: TTXVN)


