Đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu nhân lực địa phương
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Thông tư hướng dẫn việc tổ chức thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng cho đối tượng cho người lao động ở khu vực nông thôn, người lao động là thanh niên.

Lớp đào đạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề ngắn hạn cho người lao động tại cơ sở sản xuất hàng mây tre giang đan tại xã Phú Nghĩa. Ảnh: PN
Theo dự thảo, để đảm bảo tính khả thi của chính sách thì các địa phương sẽ cần phải khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động ở khu vực nông thôn và người lao động là thanh niên làm căn cứ lập kế hoạch, xây dựng, phân bổ kinh phí và tổ chức thực hiện. Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với chính quyền cấp xã và các đơn vị liên quan thực hiện khảo sát, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt ngành, nghề hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng.
Việc lựa chọn nghề không chỉ dựa vào nhu cầu học nghề mà còn phải gắn với nhu cầu nhân lực của địa phương. Dự thảo nêu rõ việc ưu tiên những nghề gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và định hướng sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
Để phù hợp với điều kiện của người lao động, dự thảo khuyến khích tổ chức lớp học lưu động, tại doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc nơi sản xuất. Việc đào tạo được định hướng gắn với giải quyết việc làm sau khóa học.
Dự thảo cũng quy định trách nhiệm của cơ sở đào tạo trước và sau khóa học. Trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo, cơ sở phải đăng ký thông tin chương trình vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm các điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất và thiết bị.
Sau khi người học hoàn thành chương trình, cơ sở cập nhật kết quả đào tạo và việc cấp chứng chỉ vào cơ sở dữ liệu. Người học đủ điều kiện được cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo theo chương trình đã học.
Theo dự thảo, mức hỗ trợ đào tạo được xác định theo học phí thực tế của khóa học, nhưng không vượt mức trần quy định tại Nghị định số 338/2025/NĐ-CP. Nếu học phí thực tế thấp hơn hoặc bằng mức trần, khoản hỗ trợ được tính theo học phí thực tế. Nếu học phí cao hơn mức trần, khoản hỗ trợ bằng mức trần; phần chênh lệch do người học hoặc nguồn kinh phí hợp pháp khác chi trả.
Ngoài học phí, dự thảo hướng dẫn cách tính hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí theo số ngày thực học. Đối với tiền đi lại, việc hỗ trợ căn cứ vào nơi cư trú của người lao động, địa điểm học và các điều kiện, định mức quy định tại Nghị định số 338/2025/NĐ-CP.
