Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ: Thành quả đến từ những chính sách đúng đắn
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ đang trở thành trụ cột của mô hình tăng trưởng mới.
Với Việt Nam, việc đẩy mạnh bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế mà còn là điều kiện then chốt để chuyển hóa tri thức thành nguồn lực phát triển, hiện thực hóa các định hướng lớn từ Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tiệm cận chuẩn mực quốc tế

Lãnh đạo Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh trình bày giải pháp sử dụng tem AI phát hiện hàng giả. Ảnh: Linh Sơn/TTXVN
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam được xây dựng theo lộ trình rõ ràng, có kế thừa và phát triển. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, có hiệu lực ngày 1/7/2006 là dấu mốc quan trọng, lần đầu tiên thiết lập một khung pháp lý tương đối đầy đủ cho việc xác lập, bảo hộ và thực thi quyền. Đây được coi là bước đi mang tính nền tảng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tiếp theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ tiếp tục được sửa đổi vào các năm 2009, 2019, 2022 luôn theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, đồng thời cập nhật với thực tiễn phát triển trong nước.
Gần đây nhất, ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 131/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 1/4/2026. Luật sửa đổi năm 2025 tiếp tục đặt trọng tâm vào cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động sở hữu trí tuệ. Thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp được rút ngắn đáng kể: Thẩm định nội dung đơn sáng chế giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng; đơn nhãn hiệu từ 9 tháng xuống còn 5 tháng; đơn kiểu dáng công nghiệp từ 7 tháng xuống 5 tháng; thời gian công bố đơn giảm từ 2 tháng xuống còn 1 tháng.
Đặc biệt, Luật đã bổ sung cơ chế thẩm định nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu trong thời hạn 3 tháng khi đáp ứng các điều kiện nhất định - một cơ chế mà hiện chỉ rất ít quốc gia áp dụng. Cùng với đó, yêu cầu chuyển đổi số toàn diện được đặt ra, bao gồm việc ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo trong xử lý đơn, đơn giản hóa quy trình và tăng cường hậu kiểm. Đây là bước đi quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội đối với dịch vụ sở hữu trí tuệ.
Không chỉ dừng lại ở cải cách thủ tục, Luật sửa đổi năm 2025 còn mở rộng phạm vi bảo hộ đối với một số đối tượng mới, như kiểu dáng công nghiệp của phần không tách rời sản phẩm, hay sản phẩm phi vật lý như giao diện đồ họa, biểu tượng (icon). Quyền tác giả cũng được bảo hộ đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.
Đặc biệt, lần đầu tiên các vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) được đề cập rõ trong luật. Theo đó, việc khai thác dữ liệu để huấn luyện AI được cho phép nhưng phải bảo đảm không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Đồng thời, luật khẳng định chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng do con người tạo ra, từ chối cấp văn bằng nếu xác định chủ thể sáng tạo không phải con người. Những quy định này thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc bắt kịp xu hướng toàn cầu, đồng thời giải quyết các thách thức mới phát sinh trong kỷ nguyên số.
Chính sách đúng đắn đã cho ra những "trái ngọt". Theo ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, trong giai đoạn 2021–2025, Việt Nam tiếp nhận trên 423.000 đơn sở hữu công nghiệp, tăng 26,5% so với giai đoạn trước; xử lý trên 436.000 đơn, tăng 69%; cấp trên 255.000 văn bằng bảo hộ, tăng 55,4%. Riêng năm 2025, hơn 250.900 đơn đã được xử lý và hơn 83.300 văn bằng được cấp, qua đó cơ bản giải quyết tình trạng tồn đọng kéo dài nhiều năm.
Cùng với đó, số đơn đăng ký sáng chế của các tổ chức, cá nhân trong nước tăng 36%, trong khi số văn bằng được cấp tăng tới 134,2%, vượt xa mục tiêu đề ra. Điều này cho thấy năng lực sáng tạo của đất nước đang từng bước được nâng lên và chuyển hóa thành tài sản trí tuệ có giá trị. Sở hữu trí tuệ giờ đây đã trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo.

Thanh long Chợ Gạo của tỉnh Đồng Tháp đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Ảnh: Hữu Chí/TTXVN
Thể chế chính sách về sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện
Trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 25-26/9/2025 của Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Daren Tang, ông đã chia sẻ quan điểm về sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hiện nay. Theo ông Daren Tang, trước đây, bảo hộ sở hữu trí tuệ chủ yếu dừng ở việc đăng ký và bảo vệ quyền. Như vậy chưa đủ. Điều quan trọng là phải thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, biến sáng chế, ý tưởng thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế cụ thể. Đây cũng chính là hướng tiếp cận mà WIPO đang hợp tác cùng Việt Nam. WIPO muốn tạo ra lộ trình để ý tưởng thực sự đi ra thị trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Trong cách tiếp cận mới này, quyền sở hữu trí tuệ không còn là câu chuyện liên quan đến quy định, mà trở thành hệ sinh thái, gắn kết các trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp, từ startup đến tập đoàn lớn.
Cũng theo ông Daren Tang, đổi mới sáng tạo như một con sông chảy từ núi ra biển. Đầu nguồn chính là các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) mà Việt Nam đang đầu tư. Đầu tư càng nhiều, dòng chảy càng mạnh. Tuy nhiên, để con sông này chảy suôn sẻ và hài hòa, cần có hệ thống hỗ trợ, giúp những ý tưởng của người Việt đi đúng hướng, trở thành điển hình không chỉ trong khu vực mà còn trên thế giới. Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là vấn đề pháp lý mà sẽ trở thành cầu nối, một phần của hệ sinh thái phát triển.

Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Daren Tang giao lưu với học sinh, sinh viên Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN
Như vậy, Việt Nam đang đi đúng hướng khi Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi ) 2025 đã bước đầu thiết lập khung chính sách để quyền sở hữu trí tuệ có thể trở thành tài sản trong các giao dịch dân sự, thương mại và đầu tư; đồng thời đặt nền móng cho việc hình thành thị trường định giá và trung gian tài sản trí tuệ.
Không thể phủ nhận, trong bối cảnh thương mại điện tử và môi trường số phát triển nhanh, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn biến phức tạp với nhiều phương thức ngày càng tinh vi. Tuy nhiên, đây là thách thức phổ biến, không chỉ riêng tại Việt Nam mà cả trong khu vực và trên thế giới. Điều cần nhìn nhận là thể chế chính sách về sở hữu trí tuệ của Việt Nam ngày càng hoàn thiện; năng lực xử lý và thực thi cũng được nâng lên. Vai trò của sở hữu trí tuệ đang dịch chuyển từ bảo vệ quyền sang tạo lập giá trị và thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Tổng Giám đốc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Daren Tang tham quan các gian trưng bày các sáng kiến, thành tựu khoa học. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN
Trong bối cảnh hiện nay, cách tiếp cận của Việt Nam đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể mà còn tạo nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hướng tới một mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo; phù hợp với những giá trị mà toàn cầu đang hướng tới.











